- Chiếc la bàn ATU và Motif-Index trong nghiên cứu folklore
- Kiểu truyện Cô gái bị h.ạ.i và người mẹ hóa thân: ATU 510A
- Dũng sĩ diệt quái vật và Kẻ cướp công: ATU 300 kết hợp ATU 301
- Chàng trai đội lốt dị dạng: ATU 425 và ATU 441
- Lời giao ước, phép màu và lòng tham: ATU 563
- Bản sắc Việt đọng lại sau những mã số
- Tài liệu tham khảo xác thực
Dưới mái đình rêu phong hay bên bậu cửa ngập nắng của đồng bằng Bắc Bộ, những câu chuyện kể truyền đời của người Việt từng được xem là sản phẩm thuần túy của tâm thức bản địa. Ta lớn lên với cô Tấm ngoan hiền hóa kiếp, với Thạch Sanh chém chằn tinh cứu công chúa, hay chàng Sọ Dừa lăn lóc chăn bò. Song, khi đặt truyện cổ tích Việt Nam vào tấm bản đồ đại tự sự của nhân loại, giới nghiên cứu giật mình nhận ra: những giấc mơ bùn đất ấy không hề đơn độc. Chúng nằm chung trong một mạng lưới biểu tượng xuyên biên giới, được mã hóa tỉ mỉ bởi hệ thống phân loại Aarne-Thompson-Uther (ATU) và bảng Motif-Index của Stith Thompson.
Văn học dân gian không sinh ra từ hư vô. Nó phản chiếu cách con người ở các nền văn minh đối thoại với sinh tồn, công lý và điều kỳ ảo. Tiếp cận cổ tích Việt từ các chỉ số quốc tế không làm nghèo đi căn tính dân tộc; trái lại, thao tác này soi chiếu rực rỡ cấu trúc tư duy mà ông cha ta đã bồi đắp qua ngàn năm dâu bể.
Chiếc la bàn ATU và Motif-Index trong nghiên cứu folklore
Đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu người Phần Lan Antti Aarne đặt nền móng cho việc phân loại truyện kể dân gian theo các kiểu cốt truyện (Tales of Magic, Animal Tales…). Công trình được học giả Mỹ Stith Thompson bổ sung, chuẩn hóa vào các năm 1928, 1961, trước khi Hans-Jörg Uther hoàn thiện thành bảng chỉ mục ATU vào năm 2004. Song song đó, Thompson phát triển hệ thống Motif-Index (Bảng tra cứu mô típ) gồm sáu tập, chia nhỏ truyện kể thành các đơn vị tình tiết, hình tượng căn bản.
Nếu ATU gom các câu chuyện có cùng cấu trúc xương sống thành một “kiểu truyện” (type), thì Motif-Index định danh từng mẩu tế bào tạo nên khung xương ấy (motif). Qua chiếc lăng kính này, người ta nhận thấy truyện dân gian Việt Nam chia sẻ chung vô số mã gien văn hóa với thế giới, từ vùng Scandinavia tuyết trắng đến những ốc đảo khô cằn của xứ Nghìn lẻ một đêm.
Kiểu truyện Cô gái bị h.ạ.i và người mẹ hóa thân: ATU 510A
Truyện Tấm Cám của người Việt là trường hợp kinh điển thuộc kiểu truyện ATU 510A (The Persecuted Heroine – Người nữ anh hùng bị áp bức), phân họ của dòng truyện Cinderella phổ quát toàn cầu.
Các mô típ cốt lõi của Tấm Cám ăn khớp chuẩn xác với hệ thống Motif-Index:
- S31 – Dì ghẻ tàn ác (Cruel stepmother): Mầm mống bi kịch gia đình mẫu hệ/phụ hệ chuyển giao.
- B435.1 – Trợ thủ động vật (Cá bống giúp đỡ): Linh hồn người mẹ đã khuất ngụ trong sinh vật nhỏ bé, tương tự con bò tro trong cổ tích Nga hay chim bồ câu trắng trong truyện Grimm.
- H1091.1 – Thử thách bất khả thi: Hành động dì ghẻ trộn thóc với gạo bắt nhặt, được giải quyết nhờ đàn chim sẻ trợ lực.
- H36.1 – Thử giày nhận diện người đẹp (Slipper test): Chiếc hài đánh rơi nơi hội làng đóng vai trò then chốt xác định vị thế hoàng hậu.
Điểm dị biệt làm nên chất Việt nằm ở chặng sau của câu chuyện. Nếu nàng Lọ Lem phương Tây kết thúc chuỗi ngày cay đắng bằng hôn lễ tráng lệ, cô Tấm lại bước vào một chuỗi biến hình luân hồi (E610 – Reincarnation): chim vàng anh, hai cây xoan đào, khung cửi và quả thị. Đây là dấu ấn đậm nét của thuyết luân hồi Phật giáo hòa quyện cùng tín ngưỡng vạn vật hữu linh của cư dân nông nghiệp lúa nước. Sự trừng p-h-ạ-t cuối truyện dành cho mẹ con Cám cũng phản ánh tính khốc liệt, sòng phẳng của công lý bình dân thời cổ.
Dũng sĩ diệt quái vật và Kẻ cướp công: ATU 300 kết hợp ATU 301
Thạch Sanh là bản anh hùng ca mộc mạc mang bóng dáng của tráng sĩ cổ đại, tích hợp trọn vẹn kiểu truyện ATU 300 (The Dragon Slayer – Dũng sĩ diệt rồng/quái vật) và ATU 301 (The Three Stolen Princesses – Ba nàng công chúa bị bắt cóc).
Xuyên suốt cuộc đời chàng mồ côi dưới gốc đa, hàng loạt mô típ quốc tế xuất hiện:
- F610 – Sức mạnh phi thường bẩm sinh: Thạch Sanh được thần tiên dạy võ nghệ, sở hữu sức mạnh dời non lấp biển.
- B11.2.3.1 – G.i.ế.t quái vật cứu người: Chém Chằn tinh nơi miếu thờ, b.ắ.n Đại bàng cứu công chúa.
- K2211 – Người anh em kết nghĩa phản trắc: Lý Thông hiện thân cho mô típ kẻ bội tín tráo trở, lấp cửa hang h.ã.m h.ạ.i dũng sĩ để đoạt công danh (K1931.2 – Impostors steal credit).
- F92 – Rơi xuống thế giới ngầm: Thạch Sanh xuống hang sâu cứu người, lạc vào thủy phủ của Vua Thủy Tề.
Thế nhưng, tâm tính Việt đã tái định hình đoạn kết. Chiến thắng của Thạch Sanh không khép lại bằng gươm đao mà bằng tiếng đàn giải oan (D1231 – Magic musical instrument) khiến quân giặc rã rời ý chí, cùng niêu cơm thần ăn mãi không hết (D1472.1.22 – Inexhaustible pot of rice). Khát vọng hòa mục, triết lý lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn đã biến một kiểu truyện dũng sĩ chinh phạt Tây phương thành một bài ca chuộng hòa bình của làng xã Việt.
Chàng trai đội lốt dị dạng: ATU 425 và ATU 441
Truyện Sọ Dừa chạm vào tầng sâu vô thức về thân phận con người, tương ứng với kiểu truyện ATU 425 (The Search for the Lost Husband) và ATU 441 (Hans My Hedgehog – Chàng Hans lốt nhím).
Khởi đầu là sự hoài thai kỳ lạ (T510 – Miraculous conception) khi người mẹ uống nước trong sọ dừa nơi gốc cây. Đứa trẻ sinh ra không tay không chân, tròn lông lốc, bị thế gian rẻ rúng (L100 – Nhân vật không có triển vọng). Thế nhưng, bên trong lớp vỏ quái dị ấy là vẻ đẹp tuyệt mỹ của chàng trai thổi sáo chăn bò, chỉ hiển lộ trước người con gái út giàu lòng trắc ẩn.
Mô típ lột xác (D700 – Disenchantment) sau khi kết hôn khẳng định giá trị bên trong chiến thắng hình thức bề ngoài. Phần sau của truyện, khi người vợ bị hai cô chị ghen ghét đẩy xuống biển, sống sót nhờ bụng cá, dùng dao m.ổ bụng cá thoát ra ngoài hoang đảo, mang đậm dấu ấn sinh tồn biển đảo của cư dân vùng duyên hải Đông Nam Á, khớp với mô típ F911.4 (Người bị nuốt vào bụng cá rồi thoát ra an toàn).
Lời giao ước, phép màu và lòng tham: ATU 563
Truyện Cây tre trăm đốt xếp vào kiểu truyện ATU 563 (The Table, the Ass, and the Stick – Bàn ăn, lừa vàng và cây gậy kỳ diệu) với mô típ trung tâm là những vật phẩm thần kỳ thực thi công lý bình dân.
Chàng Khoai đại diện cho lớp người lao động cùng khổ chịu sự bóc lột của địa chủ thông qua một lời hứa hôn bất khả thi: tìm cây tre trăm đốt. Chi tiết ông Bụt ban câu thần chú “Khắc nhập, khắc xuất” chính là mô típ ma thuật dính kết (D2171 – Magic adhesion). Sự trừng p-h-ạ-t phú ông dính chặt vào thân tre không chỉ gây tiếng cười trào lộng mà còn thể hiện mong ước cân bằng trật tự xã hội của người nông dân thuở trước.
Bản sắc Việt đọng lại sau những mã số
So sánh cổ tích Việt Nam qua ATU và Motif-Index không phải để đồng nhất hóa thô bạo các nền văn hóa. Ngược lại, chính khi đặt cạnh dị bản của các dân tộc khác, cái “hồn vía” của xứ sở mới hiện lên sắc nét nhất.
Cổ tích phương Tây thường ưa chuộng không gian cung điện xa hoa, rừng rậm rùng rợn, tinh thần hiệp sĩ quả cảm và sự can thiệp trực diện của quyền lực giáo hội. Cổ tích Việt Nam neo chặt vào không gian làng xóm: rặng tre, bờ ao, gốc đa, nương dâu. Thần tiên hóa thân thành ông Bụt hiền từ với râu tóc bạc phơ, xuất hiện ngay khi con người cùng quẫn rơi nước mắt. Tính chất nhẫn nại, kiên trì của cư dân lúa nước thấm vào từng chặng đường biến hóa của nhân vật.
Hệ thống ATU chứng minh rằng tâm hồn người Việt từ ngàn xưa đã hòa nhịp cùng nhân loại trong những khát vọng sơ khai: cái thiện ắt thắng cái ác, kẻ bần hàn được đền bù, và tình yêu thương đủ sức hóa giải mọi ranh giới dị biệt.
Tài liệu tham khảo xác thực
- Aarne, Antti, & Thompson, Stith. (1961). The Types of the Folktale: A Classification and Bibliography. Folklore Fellows Communications (FFC) No. 184. Helsinki: Suomalainen Tiedeakatemia.
- Uther, Hans-Jörg. (2004). The Types of International Folktales: A Classification and Bibliography, Based on the System of Antti Aarne and Stith Thompson. FFC No. 284-286. Helsinki: Academia Scientiarum Fennica.
- Thompson, Stith. (1955–1958). Motif-Index of Folk-Literature (6 vols). Bloomington: Indiana University Press.
- Nguyễn Đổng Chi. (1957–1982). Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập). Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.
- Đinh Gia Khánh. (1993). Văn học dân gian Việt Nam. Hà Nội: NXB Giáo dục.