Bản đồ 12 sứ quân có đúng lịch sử? Mảnh khuyết địa bàn thế kỷ X

Năm 944, Ngô Quyền tạ thế. Cổ Loa chao đảo. Mảnh đất vừa thoát khỏi ách đô hộ ngàn năm chưa kịp định hình một thể chế trung ương tập quyền vững chắc đã rơi vào vòng xoáy tranh đoạt. Trong sách giáo khoa và các ấn phẩm phổ thông, người ta dễ dàng bắt gặp bức bản đồ Châu thổ sông Hồng được chia cắt thành 12 mảnh mảng màu riêng biệt, đại diện cho địa bàn cát cứ của 12 sứ quân. Bức tranh ấy trực quan, rõ ràng và ngăn nắp. Nhưng liệu lịch sử thế kỷ X có vận hành theo sự ngăn nắp mang tính tư duy hiện đại đó?

Quan sát một bản đồ địa chính ngày nay, ranh giới giữa các tỉnh thành được kẻ vẽ bằng những đường nét đứt khúc chính xác đến từng mét. Khi áp tư duy ấy vào bối cảnh hơn một nghìn năm trước, chúng ta vô tình ngụy tạo một thực tại lịch sử vốn dĩ mơ hồ, biến động và phức tạp hơn rất nhiều.

Bản đồ hiện đại và tham vọng “kẻ vạch chỉ ranh”

Lịch sử cartography (bản đồ học) cho thấy khái niệm ranh giới lãnh thổ dạng đường biên liền mạch (borderline) chỉ xuất hiện phổ biến ở phương Tây từ thế kỷ XVII và tràn sang Đông Á muộn hơn nhiều. Vào thế kỷ X, tư duy quản trị đất nước ở vùng Đông Nam Á nói chung và Châu thổ sông Hồng nói riêng dựa trên mô hình “Mandala” hoặc các khôngран trung tâm quyền lực dạng điểm (node-based power).

Mỗi sứ quân thời bấy giờ không nắm giữ một “tiểu quốc” có ranh giới khép kín. Quyền lực của họ lan tỏa từ một trung tâm đồn trại, phủ đệ ra vùng phụ cận. Vùng ảnh hưởng ấy đậm đặc ở trung tâm và mờ nhạt dần khi tiến ra xa. Giữa địa bàn của sứ quân này và sứ quân khác thường là những khoảng đệm: những khu rừng rậm, vùng đầm lầy vô chủ, hoặc các làng xã giữ vị trí trung lập, nộp thuế cho kẻ nào mạnh hơn trong từng thời điểm.

Kẻ một đường ranh giới màu đỏ phân chia Đỗ Động Giang của Đỗ Cảnh Thạc với Tây Phù Liệt của Nguyễn Siêu là việc làm mang tính giả định của các nhà làm bản đồ thời sau. Nó giúp người học dễ hình dung, nhưng lại tước đi bản chất tự nhiên của không gian chính trị cổ đại.

Sự biến dịch của địa hình sông ngòi sau một thiên niên kỷ

Châu thổ sông Hồng là một thực thể địa lý sống động, liên tục biến đổi. Khi dựng lại bản đồ 12 sứ quân, giới nghiên cứu phải đối mặt với một thách thức lớn: địa hình thế kỷ X khác xa so với hiện tại.

Trần Lãm chiếm cứ Bố Hải Khẩu. Ngày nay, vùng đất Kỳ Bá (Thái Bình) nằm sâu trong đất liền. Nhưng vào thế kỷ X, Bố Hải Khẩu thực sự là một cửa biển sầm uất, nơi dòng sông Trà Lý đổ ra biển lớn. Sóng biển và dòng chảy phù sa trong một ngàn năm qua đã bồi đắp hàng chục kilômét đất lấn ra vịnh Bắc Bộ.

Các con sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Luộc qua hàng thế kỷ đã nhiều lần đổi dòng, tự sát gạt bờ bên này, bồi lở bờ bên kia. Những vùng đầm lầy ngập nước từng là chỗ dựa quân sự tự nhiên của Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư hay Kiều Thuận ở Hồi Hồ nay đã trở thành những đồng ruộng bằng phẳng hoặc khu dân cư trù phú. Việc lấy bản đồ hành chính hiện đại làm nền để vẽ địa bàn sứ quân thế kỷ X vô hình trung đã đặt các nhân vật lịch sử vào một khung cảnh địa lý không thuộc về thời đại của họ.

Khoảng trống nghiệt đao từ tư liệu trung đại

Chúng ta biết về 12 sứ quân qua những đâu? Nguồn tư liệu viết sớm nhất còn lưu giữ được như Đại Việt sử lược (thời Trần) hay Đại Việt sử ký toàn thư (thời Lê) ghi chép về thời kỳ này vô cùng ngắn ngủi. Thường chỉ vỏn vẹn một dòng mô thiện tên tuổi, danh xưng và địa danh căn cứ:

  • Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Triệu Sơn, Thanh Hóa)
  • Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai, Hà Nội)
  • Trần Lãm giữ Bố Hải Khẩu (Kỳ Bá, Thái Bình)
  • Kiều Công Hãn giữ Phong Châu (Lâm Thao, Phú Thọ)
  • Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Du (Bắc Ninh)
  • Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội)
  • Lý Khuê giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh)
  • Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội)
  • Kiều Thuận giữ Hồi Hồ (Cẩm Khê, Phú Thọ)
  • Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Kim Động, Hưng Yên)
  • Lã Đường giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên)
  • Nguyễn Khoan giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc)

Sử cũ không hề mô tả diện tích, không chép ranh giới phía bắc chạm đến đâu, phía tây kéo dài tới núi nào. Những địa danh như “Đỗ Động Giang” hay “Tam Đái” là các vùng không gian văn hóa – địa lý rộng lớn, không có tọa độ cố định. Khi các nhà địa lý lịch sử thế kỷ XX như Đào Duy Anh nỗ lực khớp nối các địa danh này lên bản đồ, đó là một công trình khoa học nghiêm túc dựa trên suy đoán logic và khảo sát thực địa, nhưng nó vẫn chứa đựng nhiều khoảng trống chưa thể lấp đầy.

Mạng lưới thổ hào và bản chất thực sự của sự cát cứ

Cần nhìn nhận 12 sứ quân không phải những kẻ phiến loạn từ trên trời rơi xuống. Họ là đại diện cho cấu trúc xã hội Việt cổ giai đoạn hậu Bắc thuộc: hệ thống gia tộc hào trưởng liên kết với dân cư bản địa.

Sự phân chia địa bàn thực chất là sự chia rẽ về mặt trung thành của các liên minh dòng họ. Họ Kiều ở vùng núi phía Bắc (Phong Châu, Hồi Hồ), họ Ngô ở vùng châu thổ trung tâm và Đường Lâm, họ Trần ở vùng ven biển. Mối quan hệ giữa các vùng này không phải là quan hệ biên giới quốc gia, mà là mạng lưới giao thương, hôn nhân và xung đột quân sự mang tính cục bộ.

Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước không thuần túy bằng việc đem quân đánh chiếm từng mét đất trên bản đồ. Ông sử dụng kết hợp giữa lực lượng quân sự, liên minh hôn nhân (kết hôn với con gái Trần Lãm, gả con gái cho Ngô Nhật Khánh) và quy phục về mặt tâm linh, thu phục lòng người. Sự sụp đổ của một sứ quân thường bắt đầu từ việc thủ lĩnh bị tiêu diệt hoặc hàng phục, dẫn đến việc toàn bộ mạng lưới làng xã dưới quyền lập tức chuyển sự trung thành sang chính quyền Hoa Lư, chứ không diễn ra quá trình “thu hồi lãnh thổ” theo khái niệm quân sự hiện đại.

Nhìn lại bản đồ 12 sứ quân

Bản đồ 12 sứ quân đang lưu hành trong các bộ giáo trình hay tài liệu lịch sử phổ thông có giá trị như một **mô hình hình dung trực quan** (visual model). Nó giúp người đọc nắm bắt được sự phân tán quyền lực sau khi nhà Ngô suy vong và vị trí tương quan giữa các trung tâm lực lượng.

Tuy nhiên, coi đó là sự phản ánh chính xác 100% thực tế lịch sử thế kỷ X lại là một sự nhầm lẫn về phương pháp luận. Lịch sử cần được trả về với sự thô giáp, mờ đục và linh hoạt vốn có của nó. Phía sau những đường kẻ ranh giới đẹp đẽ trên bản đồ in màu là vô số làng Việt cổ nằm nép mình bên những con sông hung dữ, nơi người dân sống phụ thuộc vào vị thủ lĩnh địa phương mà đôi khi chính họ cũng chẳng rõ ranh giới quyền lực của chủ mình kéo dài đến đâu.

Tài liệu tham khảo

  • Khuyết danh (thời Trần), Đại Việt sử lược, NXB TPHCM, 1993.
  • Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998.
  • Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các thời kỳ, NXB Thuận Hóa, 2005.
  • Trần Quốc Vượng, Tư duy lịch sử và văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, 2000.
  • Keith W. Taylor, The Birth of Vietnam, University of California Press, 1983.