Cây tre trăm đốt và thử thách vật chất bất khả ở cổ tích thế giới

Dưới lũy tre làng đồng bằng Bắc Bộ, câu chuyện anh Khoai đi tìm cây tre một trăm đốt không đơn thuần là bài học luân lý về sự ở hiền gặp lành. Nó mở ra một chiều kích khác, sắc lạnh và đầy mâu thuẫn: cuộc đối đầu giữa kẻ bần hàn với những đòi hỏi vật chất phi lý từ kẻ nắm giữ tư liệu sản xuất. Lão phú ông không từ chối gả con gái bằng một nhát gác gậy dứt khoát. Lão đẩy người làm công vào một cái bẫy thực chứng: đòi một thực thể tự nhiên vượt qua mọi giới hạn sinh học thông thường.

Nhìn rộng ra các nền văn minh, mô-típ những nan đề vật chất vượt ngưỡng tự nhiên này không hề đơn độc. Chúng lặp đi lặp lại từ bờ bãi sông Hồng sang những cánh rừng sồi xứ Đức, vượt qua các thảo nguyên Trung Á tới tận hoàng cung ngập hương trầm của xứ Phù Tang cổ xưa.

Bản chất của cây tre một trăm đốt trong tâm thức Việt

Cây tre là thước đo của làng. Tre dựng nhà, đan rổ, vót đũa, chông tre giữ giặc. Người nông dân Việt Nam gắn bó với bụi tre từ lúc lọt lòng đến khi nằm xuống dưới lớp đất sâu. Họ hiểu rõ từng mắt tre, đốt tre hơn bất kỳ ai. Một cây tre bình thường vươn cao lắm cũng chỉ dừng lại ở độ bốn, năm mươi đốt. Đòi hỏi một cây tre một trăm đốt mọc liền một thân trong rừng sâu là một yêu sách mang tính triệt hạ logic tự nhiên.

Phú ông dùng chính biểu tượng thân thuộc nhất của làng để giăng bẫy kẻ ngây thơ. Đó là sự áp chế bằng hình thức vật chất không thể tồn tại. Anh Khoai vác rìu đi vào rừng, đối diện với sự im lặng của đại ngàn, cũng chính là đối diện với bức tường cùng quẫn của giai cấp. Anh khóc vì nhận ra giới hạn của sức người trước sự phi lý trơ tráo.

Giải pháp của truyện dân gian Việt Nam ở đây không phải là sáng tạo ra một giống loài ngoại lai. Bụt hiện lên không biến cây tre thành vàng ròng hay ngọc bích. Phép mầu mang tên hai câu thần chú: “Khắc nhập, khắc xuất”. Trăm đốt tre rời rạc, sau nhát chặt của bàn tay lao động, được lắp ghép lại thành một thể thống nhất. Đây là một chi tiết mang tính triết lý sâu sắc: sự hàn gắn cơ học được thiêng hóa, biến cái rời rạc tầm thường thành sức mạnh tổng thể để khuất phục kẻ bất lương.

Những biến thể của thử thách vật chất bất khả trên thế giới

Trong hệ thống phân loại truyện cổ dân gian Aarne-Thompson-Uther (ATU), những thử thách này thường rơi vào nhóm mô-típ H1010 (Những nhiệm vụ bất khả thi) và H1020 (Những đòi hỏi trái với bản chất của sự vật). Mỗi nền văn hóa lại phủ lên nan đề ấy một lớp vỏ vật chất riêng biệt.

Rơm rạ hóa hoàng kim trong cổ tích Grim

Ở phương Tây, câu chuyện Rumpelstiltskin của Anh em nhà Grimm phản ánh nỗi ám ảnh thời kỳ tích lũy tư bản sơ khai và quyền lực của kim loại quý. Nhà vua giam cô con gái người xay bột vào căn phòng đầy rơm, ra lệnh trước bình minh phải kéo đống rơm khô thành những sợi chỉ vàng óng ả, nếu không sẽ phải chịu tội chết.

Sợi rơm tầm thường đối chọi với vàng ròng lóa mắt. Đây là bài toán giả kim thuật mang tính cưỡng bức tuyệt đối. Con người bị buộc phải biến đổi bản chất của vật chất hữu cơ mục nát thành kim loại vĩnh cửu. Ở đây không có Bụt từ bi xuất hiện, chỉ có một sinh thể dị dạng của bóng tối đến đổi chác bằng cái giá cắt cổ: đứa con đầu lòng.

Năm báu vật thách cưới trong Chuyện người đốn tre của Nhật Bản

Phương Đông hải đảo lại tìm đến sự tinh tế tàn nhẫn khác. Trong Taketori Monogatari (Chuyện người đốn tre), nàng Kaguya từ mặt trăng rơi xuống gián tiếp từ chối năm chàng quý tộc quyền thế bằng việc yêu cầu họ tìm về những vật phẩm phi hiện thực:

  • Bát đá của Đức Phật từ Thiên Trúc không vấy một hạt bụi.
  • Cành cây ngọc báu rễ bạc thân vàng trên đảo Bồng Lai.
  • Chiếc áo lông chuột lửa không cháy trong ngọn lửa rực sáng của đất Trung Hoa.
  • Viên ngọc ngũ sắc lấp lánh gắn trên cổ rồng dưới đáy biển sâu.
  • Chiếc vỏ sò ốc xà cừ do chim én đẻ ra.

Những vật chất này đẩy sự thử thách từ bình diện lao động chân tay sang bình diện tìm kiếm hư vô. Kết cục, các vương tôn công tử hoặc bỏ mạng giữa trùng khơi, hoặc dùng vàng bạc mua chuộc thợ kim hoàn làm đồ giả để rồi bị bẽ mặt. Sự bất khả thi ở đây dùng để phơi bày thói giả dối, kiêu căng của tầng lớp quý tộc Heian.

Nhiệm vụ của nàng Psyche trước nữ thần Aphrodite

Lùi sâu về thần thoại Hy Lạp cổ đại, nàng Psyche vì tình yêu với thần Eros mà phải phục dịch mẹ chàng là nữ thần sắc đẹp Aphrodite. Vị nữ thần giao cho nàng những công việc vượt khỏi tầm vóc sinh học của loài người: phân loại một kho thóc khổng lồ gồm vô vàn hạt kê, lúa mạch, đậu răng ngựa trước khi trời tối; đi lấy lông của đàn cừu vàng hung dữ ăn thịt người; hứng lấy nước từ dòng suối Styx đen ngòm bắt nguồn từ vách đá cheo leo hiểm trở.

Vật chất ở đây mang tính định lượng vô hạn và hiểm nguy chết người. Giới hạn của thời gian kết hợp với khối lượng vật thể khổng lồ nhằm mục đích bức tử một người trần mắt thịt dám chạm tay vào cõi thần linh.

Cơ chế giải phóng: Đòn bẩy của kẻ yếu

Vì sao truyện cổ tích khắp các châu lục đều chuộng những mô-típ vật chất phi lý đến vậy? Câu trả lời nằm ở mâu thuẫn xã hội.

Kẻ nắm quyền lực – từ phú ông, nhà vua cho tới các vị thần – luôn kiểm soát luật chơi hiện thực. Nếu thử thách chỉ dừng lại ở việc cày mười mẫu ruộng, đốn trăm cây gỗ hay nộp vài con lợn béo, kẻ dưới đáy xã hội dù cắn răng chịu khổ vẫn có thể hoàn thành bằng sự nhẫn nại. Muốn tước đoạt thành quả, muốn bẻ gãy giao kèo mà không mang tiếng bội ước, tầng lớp thống trị buộc phải đẩy thử thách sang địa hạt của cái bất khả.

Lúc này, vật chất trở thành một công cụ áp bức tinh vi. Đòi hỏi cây tre trăm đốt là một tuyên bố ngầm: “Ngươi vĩnh viễn không bao giờ có được thứ thuộc về ta.”

Chính sự dồn nén đến tận cùng này đã sản sinh ra phép mầu. Phép mầu trong truyện cổ tích không đơn giản là chi tiết hoang đường để mua vui cho con trẻ. Đó là một phản ứng tự vệ văn hóa. Khi trật tự tự nhiên và trật tự xã hội bị bóp méo bởi sự tham lam, con người viện dẫn đến lực lượng siêu nhiên (Bụt, kiến, chim muông, sinh vật huyền bí) để tái lập sự cân bằng.

Cây tre trăm đốt dựng đứng giữa sân đình, trói chặt phú ông và gã thông gia môn đăng hộ đối, là hình ảnh mang tính giải phóng cao độ. Trật tự bị đảo ngược. Kẻ nghĩ ra điều phi lý cuối cùng bị giam cầm trong chính cấu trúc phi lý ấy. Tiếng niệm “Khắc xuất” vang lên chỉ khi sự công bằng được ký kết lại trên một mặt bằng mới: mặt bằng của danh dự và sự tôn trọng người lao động.

Dấu ấn văn hóa đọng lại qua thời gian

So sánh cây tre trăm đốt với các biểu tượng thế giới, ta thấy người Việt không chuộng những vật phẩm dát vàng hay cõi tiên xa xôi. Phản kháng của người Việt bám chặt lấy gốc rẫy, bờ tre. Cây tre một trăm đốt rốt cuộc vẫn là tre làng, được lắp ghép từ những đoạn tre mộc mạc đã trải qua mưa nắng đồng rừng.

Những thử thách vật chất bất khả trong kho tàng cổ tích nhân loại, dù mang hình hài sợi chỉ vàng, cành cây ngọc hay lóng tre xanh, đều chung một đích đến. Chúng là tấm gương soi chiếu giới hạn và khát vọng của con người. Trước sự nghiệt ngã của hoàn cảnh, thứ giúp con người vượt qua không phải là bản thân phép thuật, mà là sự kiên định bảo vệ phẩm giá trước những luật lệ bất công của cuộc đời.


Tài liệu tham khảo

  • Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  • Jacob & Wilhelm Grimm (Bản dịch của Jack Zipes, 2003), The Complete Fairy Tales of the Brothers Grimm, Bantam Books.
  • Donald Keene (Dịch và chú giải, 1999), The Tale of the Bamboo Cutter (Taketori Monogatari), Tuttle Publishing.
  • Hans-Jörg Uther (2004), The Types of International Folktales: A Classification and Bibliography (Based on the System of Antti Aarne and Stith Thompson), Suomalainen Tiedeakatemia, Helsinki.
  • Apuleius (Bản dịch của E. J. Kenney, 1998), The Golden Ass (Metamorphoses), Oxford World’s Classics.