- Cám dỗ từ những vùng trắng trên bản đồ thời gian
- Giá trị của văn chương khi soi chiếu khoảng trống sử liệu
- Giải phóng con người khỏi cái bóng của biểu tượng
- Đánh thức những vỉa tầng văn hóa bị lãng quên
- Những thách đố khắc nghiệt trước trang giấy trắng
- Cái bẫy của sự phóng túng và ngụy tạo quá khứ
- Cơn khát tư liệu và công việc của kẻ đãi cát tìm vàng
- Định kiến tiếp nhận từ người đọc
- Hư cấu như một phương thức cứu vãn quá khứ
- Tài liệu và nguồn đối chiếu tham khảo
Lịch sử truyền thống nằm im lìm trong những văn bản chính sử mực nho đã mờ, nơi các triều đại được tạc khắc bằng chiến công rực rỡ hoặc những bản án định danh trung – nịnh rạch ròi. Người đọc phổ thông nhớ đến Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa. Sử quan xưa ghi chép sự kiện theo mệnh lệnh vương quyền, chú trọng thế thứ hoàng tộc, biến cố bang giao, đại nạn ngoại xâm. Những dòng chảy ngầm của số phận con người, những khoảng lặng giữa hai triều đại, hoặc các thời kỳ bị phế bỏ thường chìm vào quên lãng.
Đối diện với những trang giấy mục rỗng của thời gian, một số nhà văn không chọn bước vào những đại tự sự rực rỡ ấy. Họ rẽ lối, tìm về những ngóc ngách khuất tối, những triều đại bị nhìn nhận bằng ánh mắt hoài nghi, hoặc một vài chục năm bản lề vắng bóng tư liệu. Ở đó, văn chương bắt đầu hành trình khảo cứu và cất tiếng.
Cám dỗ từ những vùng trắng trên bản đồ thời gian
Một giai đoạn lịch sử quá sáng rõ, quá dày đặc chứng tích thành văn thường biến thành một cái lồng chật hẹp cho trí tưởng tượng. Khi mọi hành trạng của nhân vật từ lúc sinh ra, lập chiến công đến lúc nhắm mắt xuôi tay đều nằm trọn trong kỷ cương chính sử, nhà văn rất dễ rơi vào vai trò người diễn ca lịch sử minh họa thuần túy.
Những giai đoạn khuất lấp mang một ma lực khác. Đó là thời Mạc suy vi dạt về Cao Bằng, là những thập niên phân tranh Trịnh – Nguyễn đầy nghịch lý, là vài năm ngắn ngủi của nhà Hồ với những bi kịch cải cách, hay tiếng thở dài của các thân vương thời Lê mạt. Sử liệu về các thời kỳ này thường đứt gãy, phiến diện hoặc mang đậm góc nhìn trừng phạt của kẻ thắng cuộc.
Nhà văn tìm thấy ở những khoảng trống ấy một sự tự do cay đắng. Tự do vì không bị câu thúc bởi từng mốc giờ khắc nghiệt. Cay đắng vì để chạm tới sự thật nhân sinh, người viết phải tự mình dấn thân vào một cuộc khai quật tâm thức.
Giá trị của văn chương khi soi chiếu khoảng trống sử liệu
Giải phóng con người khỏi cái bóng của biểu tượng
Chính sử thường đúc tượng nhân vật. Tướng soái thì dũng mãnh tuyệt luân, trung thần thì một lòng sắt đá, phản loạn thì tàn bạo đê hèn. Nhưng đời sống thực chưa bao giờ vận hành bằng những nét vẽ đơn giản ấy.
Chọn một thời kỳ mờ tỏ là cơ hội bóc tách con người khỏi lớp sơn son thiếp vàng. Ở những biến thiên hỗn loạn, ranh giới đúng – sai bị nhòa đi. Người viết được quyền đặt câu hỏi: Một ông vua bị coi là thoán đoạt đã trăn trở điều gì trước vận mệnh quốc gia? Một thứ dân vô danh đã trải qua những ngày chạy loạn ra sao giữa tiếng gươm đao của các tập đoàn phong kiến? Văn chương lúc này trả lại cho lịch sử chiều kích nhân bản: sự sợ hãi, lòng trắc ẩn, tính dục, đức tin và những giằng xé nội tâm.
Đánh thức những vỉa tầng văn hóa bị lãng quên
Lịch sử không chỉ có chiến trận và cung đình. Dưới tầng sâu của những biến động chính trị là nhịp sống sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng dân gian và tâm thức tập thể của cả một tộc người. Viết về những thời kỳ ít được biết đến buộc nhà văn phải truy tầm văn hóa vật chất lẫn tinh thần: một bát canh cá nấu rau sắng, tiếng tụng kinh trong ngôi chùa làng thời loạn, hay nếp nghĩ của tầng lớp sĩ phu trước sự sụp đổ của một hệ giá trị cũ.
Nguyễn Xuân Khánh từng mất hàng chục năm nghiền ngẫm trầm tích Nho – Phật – Đạo để làm bừng nở không gian văn hóa Thăng Long cuối thời Trần qua số phận Hồ Quý Ly. Những trang viết vượt thoát khỏi sự kiện biên niên đơn thuần, trở thành một cuộc đối thoại liên văn hóa sâu sắc giữa quá khứ và hiện tại.
Những thách đố khắc nghiệt trước trang giấy trắng
Cái bẫy của sự phóng túng và ngụy tạo quá khứ
Khoảng trống lịch sử trao quyền năng sáng tạo, nhưng đồng thời giăng sẵn cái bẫy vô tiền khoáng hậu. Ranh giới giữa hư cấu nghệ thuật và sự bịa đặt cẩu thả hết sức mong manh.
Nhiều ngòi bút non tay khi đối diện với sự thiếu hụt cứ liệu thường mắc lỗi hiện đại hóa tâm lý nhân vật lịch sử. Họ gán cho người xưa những tư tưởng dân chủ, chủ nghĩa cá nhân hay góc nhìn đạo đức của thế kỷ hai mươi mốt. Lịch sử bị biến thành sàn diễn xiếc cho những ý niệm tân thời, đánh mất hoàn toàn không khí thời đại (l’air du temps) và căn tính văn hóa cốt lõi.
Cơn khát tư liệu và công việc của kẻ đãi cát tìm vàng
Viết về thời kỳ vắng bóng chính sử đòi hỏi công phu điền dã và khảo chứng gấp bội. Khi thư tịch triều đình im lặng, người viết phải lần mò vào gia phả, thần tích làng xã, văn bia, truyền thuyết dân gian, thậm chí các ghi chép rời rạc của giáo sĩ phương Tây hay sứ thần lân bang.
Uông Triều khi chạm vào những vùng mờ của lịch sử phía Bắc luôn chọn cách lội ngược dòng thực địa, đối chiếu văn bản cổ với địa hình, địa chí hiện thời. Đó là một công việc nhọc nhằn, đơn độc. Đôi khi, cả một tuần tra cứu trong viện khảo cổ chỉ đổi lấy một chi tiết xác đáng về cách ăn mặc của một viên quan coi ngục hay cấu trúc một chuyến đò ngang thế kỷ mười bảy.
Định kiến tiếp nhận từ người đọc
Tâm lý người đọc phổ thông thường bị đóng khung bởi những định kiến đạo đức sẵn có từ sách giáo khoa hoặc tiểu thuyết chương hồi. Viết về một nhân vật từng bị chính sử bôi đen, hoặc phục dựng một giai đoạn bị coi là “loạn lạc vô giá trị”, nhà văn đối mặt nguy cơ bị phản ứng dữ dội.
Dư luận có thể quy chụp tác phẩm là “xét lại lịch sử” nếu người cầm bút dám nhìn nhận lại công – tội theo một hệ quy chiếu phi giáo điều. Vượt qua sức ép của định kiến đám đông để bảo vệ sự thật nghệ thuật là bản lĩnh sống còn của người viết tiểu thuyết lịch sử.
Hư cấu như một phương thức cứu vãn quá khứ
Lịch sử đã qua đi không bao giờ trở lại nguyên dạng. Những gì còn lưu lại trên văn bản chỉ là những mảnh gốm vỡ của một chiếc bình cổ xưa. Nhà văn chọn những giai đoạn ít người biết không phải để làm công việc của một sử gia vụng về, mà để dùng đất sét của trí tưởng tượng hàn gắn chiếc bình ấy lại.
Văn chương lấp đầy những khoảng trống không nhằm thay thế sự thật lịch sử, mà để mở ra những chiều kích khả biến của lịch sử. Trong những khoảng tối mịt mùng của quá khứ, ánh đuốc của tiểu thuyết giúp người đời sau nhận diện gương mặt của tổ tiên mình: những con người cũng từng hoang mang, từng đau đớn và tìm cách sinh tồn giữa cõi nhân gian dâu bể.
Tài liệu và nguồn đối chiếu tham khảo
- Nguyễn Xuân Khánh (2000), Hồ Quý Ly, Nhà xuất bản Phụ nữ.
- Uông Triều (2014), Sương mù tháng Giêng, Nhà xuất bản Trẻ.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên (1697), Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in Nội các quan bản, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch (1993).
- Trần Trọng Kim (1920), Việt Nam sử lược, Trung Bắc tân văn.
- Paul Ricoeur (2000), La mémoire, l’histoire, l’oubli (Ký ức, Lịch sử, Quên lãng), Éditions du Seuil.