Lật mở những trang biên niên sử cũ, người đọc thường chỉ bắt gặp những khung xương khô khốc của sự kiện: năm này vua lên ngôi, năm kia thảo phạt lân bang, mùa đông có tuyết rơi, mùa hạ xảy ra dịch bệnh. Những dòng ghi chép ấy chuẩn xác, lạnh lùng, kiệm lời. Chúng để lại một khoảng trống thăm thẳm về đời sống thực tế của con người thời loạn lạc hay thịnh trị. Họ mặc gì khi gió mùa tràn về? Họ xưng hô với nhau bằng ngữ điệu nào quanh mâm cơm đạm bạc? Họ sợ hãi điều gì lúc đêm đen buông xuống bờ bãi sông Hồng?
Tiểu thuyết lịch sử sinh ra để lấp đầy khoảng rỗng ấy. Bằng sự tưởng tượng dựa trên nền tảng khảo cứu nghiêm cẩn, nhà văn phủ da thịt lên bộ xương khảo cổ, phả vào đó hơi thở nóng hổi của một thời đại đã tắt từ trăm năm, nghìn năm trước. Hồn cốt ấy không hiện ra qua những lời đao to búa lớn; nó hiển lộ qua từng nếp áo, lời ăn tiếng nói, tập tục thờ phụng và bức tường gạch rêu phong.
Ngôn ngữ: Nhịp điệu và khẩu khí của tiền nhân
Ngôn ngữ là tấm căn cước đầu tiên định danh thời đại. Đọc một cuốn tiểu thuyết viết về thời Trần hay thời Lê, nếu nhân vật buông ra những lối nói thời thượng của thế kỷ hai mươi mốt, lập tức ảo giác lịch sử tan vỡ. Ngược lại, việc lạm dụng quá đà từ Hán Việt, gò ép câu chữ vào lối biền ngẫu sân khấu lại biến tác phẩm thành một vở tuồng gượng gạo.
Nhà văn phục dựng quá khứ phải tìm ra “thổ nhưỡng” cho câu chữ. Lời vua chúa nơi triều nghi cần sự mực thước, uy nghiêm nhưng không xơ cứng. Tiếng nói của dân chài ven sông Lục Đầu, người lính thú đồn trú nơi biên ải, hay bà mẹ quê đồng bằng Bắc Bộ lại phải đượm mùi bùn đất, giàu tính khẩu ngữ, thô mộc và bộc trực. Nguyễn Xuân Khánh khi viết về thời Hồ Quý Ly hay thời Mạc đã rất tinh tế khi sử dụng hệ thống đại từ nhân xưng, những danh xưng cổ và thành ngữ dân gian. Ông không nệ cổ, mà chắt lọc lấy cái nhịp điệu khoan thai, từ tốn mang đậm phong vị Nho giáo hòa quyện với sự mộc mạc của văn hóa làng xã.
Khẩu khí thời đại nằm ở chỗ: người xưa nghĩ sao thì nói vậy, cái lý của họ gắn liền với mệnh trời, đạo hiếu và luân thường. Tái hiện được cách tư duy ấy thông qua lời thoại chính là chìa khóa mở cánh cửa bước vào tâm thức tiền nhân.
Y phục và diện mạo: Lớp biểu tượng thị giác của đẳng cấp
Trang phục chưa bao giờ dừng lại ở nhu cầu che thân; đó là sự phân định ranh giới giai tầng và thể chế văn hóa của một triều đại. Một nhà văn am tường không thể tả một vị đại thần thời Lý mặc áo thêu rồng cuộn kiểu Thanh triều, cũng không thể để một phụ nữ bình dân thời Lê Sơ khoác lên mình tấm áo ngũ thân của thời Nguyễn muộn.
Mỗi thời kỳ mang một thẩm mỹ riêng. Thời Lý – Trần, dấu ấn Phật giáo và tinh thần thượng võ in hằn lên diện mạo: mái tóc cắt ngắn hoặc búi tó, những cánh tay xăm hình rồng rùa, bước đi tự do của những con người quen sông nước. Đến thời Lê, trật tự Nho giáo định hình khắt khe hơn, y phục bắt đầu gò theo quy chế phẩm phục nghiêm ngặt: mũ bình đính, áo giao lĩnh, đai khuyên, màu sắc bị kiểm soát ngặt nghèo bởi luật lệ.
Bước sang đời sống bình dân, y phục là câu chuyện của chất liệu. Tấm vải thô nhuộm củ nâu, sợi tơ tằm dệt vụng, chiếc thắt lưng bao xanh, đôi guốc gỗ hay hàm răng đen nhánh hạt na… Tả được độ sờn rách của manh áo lính thú, độ mịn màng mát rượi của dải lụa cống nương, nhà văn đã kéo lịch sử từ những bức vẽ trừu tượng về sát với cảm giác da thịt của con người.
Phong tục và tín ngưỡng: Trường lực tâm linh vô hình
Bao bọc lấy con người thời cổ là một bầu khí quyển đặc quánh của niềm tin và sợ hãi. Họ sống giữa thiên nhiên hoang sơ, nơi bão lũ, hạn hán, dịch hạch luôn chực chờ. Bởi vậy, thế giới vô hình hiển hiện trong từng hơi thở đời sống.
Tạo dựng không khí thời đại đòi hỏi người viết phải thấu hiểu hệ thống nghi lễ và niềm tin dân gian đương thời. Đó là tiếng khấn thì thầm trong đêm tối trước ban thờ Mẫu, khói nhang trầm đặc quánh nơi sân chùa, lễ tế thần sông trước ngày xuất quân, hay những điều kiêng kỵ khi đứa trẻ mới chào đời. Trong nhiều tác phẩm viết về làng quê Bắc Bộ thế kỷ mười chín, Nguyễn Xuân Khánh đã đào sâu vào lớp trầm tích tín ngưỡng này. Đạo Mẫu, hội làng, tục cướp kén, cầu mưa, những pho tượng đá thầm lặng nơi góc chùa… tất cả đan cài tạo thành tấm lưới tâm linh vững chắc nâng đỡ con người trước biến thiên lịch sử.
Nếu thiếu đi chiều kích này, các nhân vật lịch sử sẽ hành động như những cỗ máy duy lý của thời hiện đại. Họ mất đi sự run rẩy trước thần linh, mất đi nỗi khắc khoải về nghiệp báo luân hồi – những động lực sâu xa từng chi phối mọi quyết định lịch sử lớn nhỏ.
Không gian sống: Địa tầng ký ức trầm mặc
Không gian trong tiểu thuyết lịch sử không thể là một phông bạt tĩnh tại bày sẵn trên sân khấu. Nó là một thực thể sống, tương tác liên tục với thân phận con người.
Không gian ấy biến chuyển từ những nét vĩ mô đến vi mô:
- Kinh kỳ và triều đình: Sự uy nghiêm của Hoàng thành Thăng Long với lầu son gác tía nép mình bên sông Nhị Hà, hay nét đồ sộ, lạnh lẽo, góc cạnh của thành nhà Hồ xây bằng đá tảng. Nơi đây mùi mực son, án thư và khói trầm hòa lẫn vào sự ngột ngạt của những mưu toan quyền lực.
- Làng xóm và thôn dã: Những con ngõ đất ngoằn ngoèo, rặng tre ken dày ngăn gió độc, mái đình rêu phong che chở cho cả cộng đồng, bến nước cây đa nơi người ta trao nhau đôi câu hát ghẹo.
- Nội thất đời thường: Chiếc chõng tre ọp ẹp, ngọn đèn dầu lạc leo lét tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, chiếc bát chiết yêu sứt men, mùi rơm rạ ẩm ướt sau trận mưa dầm.
Nhà văn phải để nhân vật bước đi trên đất bùn trơn trượt, ngửi thấy mùi ẩm mốc của thành quách mùa mưa phùn, nếm được vị chát của ngụm nước vối nơi quán trọ ven đường. Khi các giác quan được đánh thức trọn vẹn, không gian sống sẽ tự khắc làm bừng tỉnh thời đại.
Sức sống của trang văn lịch sử
Dựng lại không khí của một thời đại không phải là công việc sao chép bảo tàng học một cách cơ học. Độc giả không tìm đến tiểu thuyết lịch sử chỉ để đọc một bảng kiểm kê y phục hay cẩm nang phong tục. Họ kiếm tìm một cảm giác sống động, một sự thấu cảm tinh thần.
Văn chương lịch sử thành công khi xóa nhòa được khoảng cách của thời gian. Khi người đọc gấp trang sách lại mà vẫn nghe thấy tiếng mái chèo khua nước trên dòng sông Hồng nghìn năm trước, thấy mắt cay vì làn khói đốt đồng thời loạn, và nhận ra những con người thuở xưa cũng từng yêu thương, đau đớn, quằn quại y hệt như chúng ta hôm nay.
Tài liệu tham khảo
- GS. Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam: Tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn hóa Dân tộc.
- Trần Quang Đức (2013), Ngàn năm áo mũ: Lịch sử trang phục Việt Nam giai đoạn 1009–1945, NXB Thế giới & Nhã Nam.
- Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, các tiểu thuyết: Hồ Quý Ly (NXB Phụ nữ, 2000), Mẫu Thượng Ngàn (NXB Phụ nữ, 2006).
- GS. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long (1993), Chùa Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội.