Lịch sử nhìn từ kẻ vô danh: Tiểu thuyết trả tiếng nói cho thường dân

Biên niên sử phương Đông lẫn phương Tây hàng ngàn năm qua dường như chỉ dành đất cho những bộ óc kinh bang tế thế. Những triều đại dựng lên rồi sụp đổ, những chiếu dời đô, những trận công thành đẫm máu được khắc ghi cẩn trọng trên thẻ tre, bia đá hay giấy da lừa. Tên tuổi của vua chúa, tướng lĩnh, các bậc khai quốc công thần sừng sững chiếm cứ tiền cảnh. Nhưng phía sau lưng họ là ai? Đó là hàng vạn phu phen đắp đê ngăn lũ, những tốp lính vô danh vùi thây nơi ải bắc, những thị tỳ câm lặng quét lá trong góc sân cấm thành.

Họ tồn tại như những con số gộp lạnh lùng: “vạn dân”, “quân ta”, “quân giặc”, hoặc chìm hẳn vào hư vô. Phải đến khi tiểu thuyết can dự vào lịch sử bằng nhãn quan hiện đại và lòng trắc ẩn sâu xa, lớp bụi phủ mờ chân dung những kẻ bên lề ấy mới thực sự được lau sạch.

Khoảng trắng rợn ngợp của chính sử

Sử quan ngày xưa cầm bút với áp lực của vương quyền và khuôn thước đạo trị quốc. Một dòng ghi chép trong sử cũ: “Năm ấy hạn hán, cỏ cây cháy rụi, người đói ăn lẫn nhau”, chỉ vỏn vẹn mươi chữ Hán, nhưng giấu sau đó là vô vàn bi kịch tan cửa nát nhà, tiếng khóc ngút trời của những người mẹ mất con, sự tha hóa đến tận cùng của nhân tính trước cái đói. Chính sử chọn cách lướt qua nỗi đau vi mô để theo đuổi đại cục vĩ mô.

Lối chép sử thiên về biến cố chính trị và cá nhân kiệt xuất vô tình biến con người bình thường thành công cụ vô danh tính. Người nông dân kéo cày chỉ có ý nghĩa khi nộp thuế; chàng trai làng biến thành một nét gạch số lượng khi sung quân; người hầu gái chỉ được nhắc tới nếu lỡ tay làm rơi chén ngọc chọc giận đế vương. Lịch sử bị biến thành sân khấu độc diễn của thiểu số quyền lực, bỏ quên đi cái nền móng đã nuôi dưỡng và nâng đỡ chính sân khấu ấy.

Bước chuyển dịch từ đại tự sự sang vi lịch sử

Văn chương không chấp nhận sự lặng câm bất công đó. Khi các nhà văn hiện đại và hậu hiện đại tiếp cận quá khứ, họ nhận ra rằng sự thật lịch sử không chỉ nằm ở nơi cung đình vàng son hay những bản hòa ước. Sự thật nằm ở vết chai trên bàn tay người thợ rèn gươm, bát cháo loãng của người lính thú đêm đông, ánh mắt thấp thỏm của người đàn bà chờ chồng ngoài ngõ vắng.

Tiểu thuyết bắt đầu đảo ngược ống kính. Nhân vật trung tâm không còn nhất thiết phải là bậc vĩ nhân mang chân mệnh thiên tử. Thay vào đó, góc nhìn được trao cho những kẻ vô danh. Khi câu chuyện được kể từ đáy tầng xã hội, lịch sử hiện lên trần trụi, đau đớn, chân thực hơn bất kỳ biên bản chính thức nào.

Tiếng thở dài của đất và người trong văn chương Việt

Văn học Việt Nam đương đại chứng kiến những cuộc kiếm tìm bản thể lịch sử đầy ám ảnh. Khi dựng lại thời kỳ biến động cuối đời Trần – đầu đời Hồ, ngòi bút của Nguyễn Xuân Khánh không chỉ mải mê với sự quyết liệt cải cách của Hồ Quý Ly. Ông lách sâu vào đời sống của những người thợ đá Tây Đô, những nhà sư trăn trở với lẽ đạo, những cô đào hát và người hầu chốn phủ đệ. Ở đó, công cuộc dời đô xây thành không chỉ là ý chí vĩ nhân, mà là máu, mồ hôi và nỗi oán thán xé lòng của hàng ngàn phu phen bị bứt khỏi ruộng đồng.

Đến những trang viết truy vấn căn tính như tác phẩm của Uông Triều, lịch sử không còn là lớp sơn son thếp vàng bóng bẩy. Những cuộc giao tranh thời Lê – Mạc hay những ẩn ức nghìn năm hiện về qua cảm giác run rẩy của người lính đứng gác mé sông mù sương, nỗi hoang mang trước thời cuộc của những phận người bé mọn bị cuốn phăng trong cơn lốc quyền lực. Tác giả không phán xét theo lối nhị nguyên trung – nịnh, mà lắng nghe tiếng cựa mình của từng số phận cá nhân nhỏ bé.

Trước đó, văn học giai đoạn đổi mới từng tạo nên cú hích với Bảo Ninh. Chiến tranh trong những trang viết ấy không chỉ có khúc tráng ca chiến thắng, mà ngập tràn nỗi buồn của những người lính trơn: nỗi sợ hãi nguyên thủy trước bom đạn, sự dằn vặt nội tâm, ký ức vụn vỡ về đồng đội vùi xác nơi rừng rậm rạp. Những thân phận lính bình thường đã bước ra khỏi tượng đài để trở về trọn vẹn với hình hài da thịt con người.

Sự cộng hưởng từ văn đàn thế giới

Sự thức tỉnh này là một dòng chảy lớn của văn chương nhân loại. Lev Tolstoy từng làm đảo lộn quan niệm truyền thống về chiến tranh khi viết Chiến tranh và hòa bình. Ông phủ nhận vai trò quyết định tuyệt đối của Napoleon hay Kutuzov, mà hướng ngòi bút về tinh thần của những binh sĩ vô danh như Platon Karataev. Với Tolstoy, chính hành động tự phát, lòng dũng cảm mộc mạc của từng cá nhân nhỏ bé nơi chiến hào mới là lực đẩy xoay chuyển bánh xe lịch sử Borodino.

Gần hơn, các tác phẩm của Hilary Mantel tái thiết thời kỳ Tudor nước Anh không chỉ qua sự chuyên chế của Henry VIII, mà lách qua cái nhìn của Thomas Cromwell – một kẻ xuất thân từ tầng lớp đáy cùng, con trai người thợ rèn hung bạo. Quá khứ được soi chiếu từ mùi bùn đất, gian bếp ẩm thấp, sự toan tính sinh tồn của những kẻ phải leo từng bậc thang xã hội bằng mồ hôi và nỗi sợ.

Khi “phông nền” cất tiếng nói

Việc đưa người bình thường ra tiền cảnh không nhằm hạ bệ các giá trị lịch sử, mà nhằm làm đầy những khoảng trống bị bỏ quên. Một triều đại thịnh trị hay suy vong không thể đo đếm thuần túy bằng diện tích bờ cõi mở mang, mà phải đo bằng chén cơm của người nông dân có đầy đặn hay không, giấc ngủ của đứa trẻ có yên bình hay không.

Khi tiểu thuyết để người hầu gái bày tỏ nỗi niềm yêu đương vụng trộm sau bức bình phong quyền quý, để người lính thú bộc bạch nỗi nhớ mẹ già thay vì cất cao khẩu hiệu trung quân vô điều kiện, văn chương đã thực hiện một cuộc cứu rỗi nhân văn. Lịch sử lúc này không còn là đống tro tàn của những khái niệm trừu tượng, mà trở thành dòng sinh mệnh nóng hổi, phập phồng nhịp thở.

Chính sự dịch chuyển này nhắc nhở chúng ta: Mỗi con người đi qua trần thế, dù mạt rệp hay bần hàn, đều là một chứng nhân đích thực của thời đại họ sống. Họ không sinh ra để làm phông nền cho bất kỳ ai.

Tài liệu tham khảo

  • Tolstoy, L. (1869). Chiến tranh và hòa bình (War and Peace). Bản dịch tiếng Việt.
  • Nguyễn Xuân Khánh (2000). Hồ Quý Ly. NXB Phụ nữ.
  • Bảo Ninh (1990). Nỗi buồn chiến tranh. NXB Hội Nhà văn.
  • Ginzburg, C. (1976). The Cheese and the Worms: The Cosmos of a Sixteenth-Century Miller (Tác phẩm kinh điển về trường phái Vi lịch sử – Microhistory). Johns Hopkins University Press.
  • Uông Triều (2014). Sương mù tháng Giêng. NXB Trẻ.