Nhân vật lịch sử trong văn học: Khi một cuộc đời mang nhiều gương mặt

Lịch sử nằm yên trong những cuốn biên niên gáy sờn, nơi những dòng chữ Hán chân phương khắc ghi ngày tháng, chiến trận, sắc phong và cái chết. Nhưng lịch sử ấy bước vào văn chương lại thức giấc, cựa mình, mang trên mình hơi thở phập phồng của một sinh thể sống. Lạ lùng thay, cùng một con người bằng xương bằng thịt từng đi qua thời gian, khi bước lên trang viết của các tác giả khác nhau, họ lại mang những diện mạo, tâm hồn và số phận dường như chẳng hề tương đồng.

Một Hồ Quý Ly có thể là kẻ soán ngôi nghịch luân trong con mắt nhà Nho, lại hóa thành một nhà cải cách bi tráng, đơn độc giữa dòng xoáy văn hóa trong trang văn của Nguyễn Xuân Khánh. Một Tào Tháo vừa là kẻ gian hùng xảo quyệt bậc nhất thiên hạ dưới ngòi bút La Quán Trung, vừa là bậc chính khách đại tài, nhà thơ thấm đẫm phong cốt Kiến An trong các góc nhìn hiện đại. Vì cớ gì dòng chảy hư cấu lại có thể nhào nặn những tượng đài xưa cũ thành những hình tượng trái ngược đến vậy?

Khoảng trắng của chính sử và sự quyến rũ của hư cấu

Chính sử thường kiệm lời. Các sử quan xưa cầm bút chép việc với thái độ cẩn trọng của nhà đạo đức phong kiến: ghi nhận sự kiện, phán xét công tội theo thước đo cương thường, trung – nịnh rõ ràng. Biên bản lịch sử ghi lại việc vua băng hà, quan khởi binh, thành trì sụp đổ. Nó hiếm khi ghi lại đêm trước cuộc đảo chính, vị đại thần đã ngồi uống rượu một mình ra sao, nỗi hoang mang nào siết lấy tâm can người mở nước, hay giọt nước mắt câm lặng của một vương phi nơi thâm cung.

Chính những khoảng trắng ngút ngàn ấy mở đường cho văn chương. Nhà văn bước vào lịch sử không phải với tư cách một người sao lục văn bản. Họ bước vào như một kẻ chiêu hồn. Nơi đâu sử học dừng lại vì thiếu sử liệu, nơi đó hư cấu nghệ thuật bắt đầu cất tiếng. Những nhà tiểu thuyết lịch sử lấp đầy sự trống vắng của thư tịch bằng logic của tâm lý con người, bằng máu thịt, mồ hôi và sự dằn vặt của tồn tại.

Lăng kính thời đại và căn cốt văn hóa của người cầm bút

Khi nhà văn viết về người xưa, thực chất họ đang đối thoại với chính thời đại mình đang sống. Hình tượng nhân vật lịch sử luôn là tấm gương phản chiếu những trăn trở, xung đột và hệ giá trị của thời điểm tác phẩm ra đời.

Ngô Sĩ Liên viết Đại Việt sử ký toàn thư dưới góc nhìn Nho giáo chính thống triều Lê, buộc phải nhìn nhận Hồ Quý Ly như một kẻ bề tôi phản trắc, chịu trách nhiệm cho sự sụp đổ của một vương triều và thảm họa giặc Minh xâm lược. Nhưng đến đầu thế kỷ 21, Nguyễn Xuân Khánh nhìn nhận nhân vật ấy từ một điểm tựa hoàn toàn khác. Trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, ông không luận tội soán vị. Tác giả quan sát nhân vật qua sự giằng xé giữa tinh thần dân tộc và áp lực Hán hóa, qua nỗi cô đơn ghê gớm của một trí thức đi trước thời đại mình quá xa. Ở đó, Hồ Quý Ly không còn là một cái tên đơn thuần gắn với tội danh nghịch thần, mà hiện lên như một nhân cách bi kịch mang tầm vóc văn hóa sâu sắc.

Mỗi thế hệ cầm bút đều mang một định kiến thẩm mỹ và đạo đức riêng. Thời chiến tranh, người ta tìm thấy ở tiền nhân khí phách quật cường, đức hy sinh tuyệt đối để phục vụ mục tiêu cố kết cộng đồng. Thời hậu chiến và thời bình, khi những đại tự sự lùi lại, văn học quay về soi chiếu con người cá nhân, nơi những anh hùng cũng biết sợ hãi, cũng có góc khuất và những nỗi cay đắng đời thường.

Giải thiêng và nỗ lực chạm vào nhân tính

Sự khác biệt giữa các hình tượng lịch sử còn đến từ quá trình giải thiêng (demythologization). Lịch sử truyền thống có xu hướng nhấc bổng nhân vật lên thành những tượng đài đá hoa cương hoặc đạp họ xuống tận cùng của sự nhơ nhuốc. Văn học hiện đại chối từ lối phân định trắng đen thô thiển ấy.

Trần Thủ Độ là một ví dụ tiêu biểu. Trong lịch sử, ông là kiến trúc sư vĩ đại dựng nên triều Trần, người thốt ra câu nói chấn động non sông: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Nhưng ông cũng chính là người ra lệnh chôn sống tôn thất nhà Lý, ép vua lấy chị dâu. Dưới ngòi bút của các nhà văn đương đại, Trần Thủ Độ không còn là vị thần hộ mệnh vô cảm hay một kẻ tàn nhẫn thuần túy. Ông hiện ra với sự cô đơn tột cùng của một kẻ nắm quyền sinh sát: người tự nguyện gánh lấy mọi bùn nhơ của thủ đoạn chính trị để bảo vệ sự tồn vong của một dân tộc trước vó ngựa Nguyên Mông. Cái ác chính trị và cái thiện dân tộc va đập nảy lửa trong một tâm hồn đơn độc.

Nhà văn Uông Triều khi viết về Nguyễn Trãi trong Sương mù tháng Giêng cũng chọn cách đi sâu vào lớp sương mờ của những bi kịch nhân thân. Nguyễn Trãi không chỉ là tác giả của áng thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại cáo với tư tưởng nhân nghĩa chói lòa, mà còn là một trí thức già nua, mệt mỏi, bất lực trước những âm mưu tranh giành quyền lực tàn khốc nơi cung đình thời Lê sơ. Lột bỏ lớp sơn son thiếp vàng, nhân vật bước xuống trang sách với vẹn nguyên nỗi đau của kiếp người.

Sự thật lịch sử đối thoại cùng sự thật nghệ thuật

Nhiều người đọc thường lẫn lộn giữa hai khái niệm: sự thật lịch sử và sự thật nghệ thuật. Sử học tôn trọng cái “đã từng xảy ra” một cách khách quan nhất có thể dựa trên cứ liệu. Nghệ thuật lại tìm kiếm cái “có thể xảy ra” dựa trên quy luật nội tâm và chiều sâu nhân bản.

Một nhân vật lịch sử khi bước vào tác phẩm văn học đã trải qua một cuộc tái sinh. Họ mang mã gien của tiền nhân, nhưng linh hồn lại được thổi vào từ trải nghiệm, vốn sống và tư tưởng của tác giả. Do đó, việc tồn tại nhiều dị bản văn học về cùng một nhân vật không phải là sự bóp méo lịch sử, mà là minh chứng cho sức sống bất tận của quá khứ trong tâm thức đương đại.

Chính sự đa thanh này cứu lịch sử thoát khỏi cảnh tượng một bảo tàng khô cứng. Khi gấp lại những trang sách viết về người xưa, cái đọng lại trong lòng độc giả không đơn thuần là tri thức về một niên đại, mà là nỗi thấu cảm trước những phận người từng trăn trở, vật lộn để tồn tại và khẳng định phẩm giá giữa cõi nhân gian dâu bể.

Tài liệu tham khảo

  • Ngô Sĩ Liên và các sử quan triều Hậu Lê (1697), Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.
  • Nguyễn Xuân Khánh (2000), Hồ Quý Ly (Tiểu thuyết), Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội.
  • Uông Triều (2015), Sương mù tháng Giêng (Tiểu thuyết lịch sử), Nhà xuất bản Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
  • Trần Đình Sử (2005), Lý luận và phê bình văn học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội.
  • Hoàng Quốc Hải (2010), Bão táp triều Trần (Bộ tiểu thuyết lịch sử), Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội.