- Bóng áo nâu bên long ngai Hoa Lư: Nghịch lý hay tất yếu?
- Gươm đao lập quốc và khoảng trống văn trị
- Nhà sư – Tầng lớp trí thức tinh hoa của thế kỷ thứ X
- Ngoại giao bằng trí tuệ: Thử lửa trước sứ thần phương Bắc
- Tinh thần nhập thế: Nâng đỡ nền độc lập non trẻ
- Dấu ấn tiền đề cho triều đại rực rỡ mai sau
- Tài liệu tham khảo
Bóng áo nâu bên long ngai Hoa Lư: Nghịch lý hay tất yếu?
Thế kỷ thứ X mở ra trên mảnh đất phù sa châu thổ sông Hồng bằng mùi thuốc súng và máu. Sau nghìn năm Bắc thuộc, sự tự chủ non trẻ vừa chớm nở đã bị đẩy vào cơn biến động dữ dội của loạn mười hai sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên bờ cõi, dựng cờ độc lập tại Hoa Lư. Tiếp đó, Lê Hoàn khoác hoàng bào ra trận, chém chúa Chiêm, phá quân Tống. Hai triều đại, hai võ tướng lẫy lừng.
Thế nhưng, sâu trong cung cấm Hoa Lư u tịch giữa bốn bề vách đá dựng đứng, ngồi cạnh long ngai của các vị hoàng đế chuộng đao kiếm ấy không phải là những văn thần xuất thân khoa bảng. Đó là những thiền sư. Ngô Chân Lưu được Đinh Tiên Hoàng phong làm Khuông Việt Đại sư, chức Tăng thống đứng đầu tăng già. Đỗ Pháp Thuận dự bàn việc quân cơ, đóng giả người chèo đò trên sông Hoàng Long đối đáp sứ Bắc.
Những người vốn dĩ trút bỏ hồng trần, tìm về chốn tịch mịch của Thiền môn, cớ sao lại bước thẳng vào tâm bão quyền lực? Đây không phải là sự tùy hứng của bậc đế vương, càng chẳng phải cuộc phiêu lưu của giới tu hành. Đó là một đòi hỏi khắc nghiệt của chính lịch sử.
Gươm đao lập quốc và khoảng trống văn trị
Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn là những thiên tài quân sự. Họ hiểu cách đánh trận, cách dùng kỷ luật thép để thu phục tướng sĩ. Song cai trị một quốc gia lại là chuyện hoàn toàn khác. Sau ngày khói lửa dứt, triều đình non trẻ phải đối mặt với một khoảng trống mênh mông: thiếu hụt cấu trúc hành chính và tầng lớp trí thức quan liêu.
Nho giáo thời bấy giờ chưa bén rễ sâu vào lòng xã hội Việt. Suốt thời Bắc thuộc, Nho gia chủ yếu là công cụ thống trị của quan lại đô hộ, co cụm ở các trị sở như Giao Chỉ, Luy Lâu. Khi người phương Bắc rút đi, Nho học không để lại một tầng lớp sĩ phu bản địa đủ đông đảo và uy tín để vận hành guồng máy nhà nước. Chế độ khoa cử độc lập phải đến năm 1075 thời Lý mới manh nha.
Quân vương bấy giờ cần người đọc hiểu chiếu thư phương Bắc, cần người soạn thảo biểu văn, phân định luật chế, hoạch định kế sách an dân. Giới võ tướng thô mộc, quen dùng gươm giáo, bất lực trước văn tự. Giữa lúc ấy, chỉ có một tầng lớp duy nhất nắm giữ tri thức, chữ nghĩa và tư tưởng: giới tăng lữ.
Nhà sư – Tầng lớp trí thức tinh hoa của thế kỷ thứ X
Chùa chiền thời bấy giờ không đơn thuần là nơi tụng kinh niệm Phật. Đó là những trung tâm giáo dục, lưu trữ văn hóa và dịch thuật. Từ thời Sĩ Vương cho đến thời Đường, các thế hệ tăng sĩ Việt Nam và ngoại quốc đã biến các tự viện thành trường học ngữ văn, thiên văn, lịch số và y học.
Thiền sư Khuông Việt (Ngô Chân Lưu) là hậu duệ của Ngô Quyền. Xuất thân hoàng tộc, ông dung nạp nền học vấn uyên bác, đọc khắp thế thư lẫn kinh điển Phật pháp. Thiền sư Pháp Thuận cũng nổi danh học rộng, hiểu sâu thời thế, có tài biện tài và thấu triệt văn tự Hán học.
Họ là những người hiếm hoi trong xã hội vừa thông thạo chữ Hán ngữ phong hoa mỹ của giới tinh hoa phương Bắc, vừa gắn bó máu thịt với đời sống dân dã của người Việt. Chọn các thiền sư, các vua họ Đinh và họ Lê đã tìm thấy giải pháp duy nhất cho bài toán nhân tài: mượn bộ óc của Thiền gia để vận hành vương triều.
Ngoại giao bằng trí tuệ: Thử lửa trước sứ thần phương Bắc
Sự hiện diện của Khuông Việt và Pháp Thuận bên cạnh Lê Hoàn bộc lộ rõ nét nhất ở mặt trận ngoại giao. Sau thất bại năm 981, nhà Tống liên tục cử các sứ thần sang thăm dò nội lực Đại Cồ Việt. Các sứ thần Trung Hoa mang nặng tâm lý miệt thị phương Nam là man di, thường dùng văn chương chữ nghĩa để lấn lướt.
Năm 987, sứ Tống là Lý Giác sang nước ta. Lê Hoàn lệnh cho thiền sư Pháp Thuận cải trang làm người chèo đò đón sứ tại sông Ninh Bình. Thấy hai con ngỗng bơi trên mặt nước, Lý Giác buột miệng ngâm đắc ý:
“Nga nga lưỡng cá nga,
Ngưỡng diện hướng thiên nha.”
(Ngỗng ngỗng hai con ngỗng, Ngửa mặt nhìn chân trời)
Chàng chèo đò Pháp Thuận tay gác mái chèo, không chút ngập ngừng, ứng khẩu nối tiếp ngay tức khắc:
“Bạch mao phô lục thủy,
Hồng điệp chước thanh ba.”
(Lông trắng phơi dòng biếc, Sóng xanh chèo chân hồng)
Lý Giác kinh ngạc tột độ. Một người chèo đò nơi bến nước hoang sơ của nước Nam lại có thể tiếp vần thơ Lạc Tân Vương một cách thần tình, điêu luyện đến thế. Đòn phủ đầu bằng văn hóa của kẻ trượng phu phương Bắc hoàn toàn phá sản trước sự uyên bác ẩn dật của một vị chân tu.
Đến khi Lý Giác cáo từ về nước, vua Lê Hoàn lại giao cho Thái sư Khuông Việt soạn khúc ca từ tiễn biệt mang tên Vương Lang Quy. Đây là tác phẩm ca từ ngoại giao đầu tiên được ghi chép trong văn học sử nước nhà. Lời thơ mềm mỏng, tha thiết nhưng ẩn chứa phong thái đàng hoàng, tự chủ của một dân tộc kiên cường:
“Tình thâm quyến luyến nghìn trùng dặm,
Trời phẳng lặng chừ buồm gấm trương…”
Nhờ tài năng của các thiền sư, triều Đinh – Tiền Lê đã dựng nên một bức tường thành ngoại giao kiên cố. Sức mạnh quân sự khiến giặc sợ, nhưng văn hiến và trí tuệ của Thiền môn mới là thứ khiến kẻ địch nể phục.
Tinh thần nhập thế: Nâng đỡ nền độc lập non trẻ
Trong tư tưởng của Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông thời kỳ này, giác ngộ không đồng nghĩa với lánh đời. Tinh thần Bồ Tát đạo thúc đẩy họ hành động vì hạnh phúc của số đông. Khi xã hội vừa thoát khỏi ách đô hộ, lòng người ly tán, đất nước cần một điểm tựa tinh thần để gắn kết.
Phật giáo thế kỷ thứ X không xa lạ với dân chúng. Ngược lại, tôn giáo này hòa quyện sâu sắc với tín ngưỡng dân gian bản địa. Các thiền sư có uy tín đạo đức tuyệt đối trong lòng bách tính. Đứng cạnh nhà vua, họ trở thành chiếc cầu nối hòa giải giữa bạo lực quân sự với lòng dân, đem lại tính chính danh tinh thần cho những vương triều vốn khởi phát từ binh lửa.
Khi vua Lê Đại Hành lo lắng hỏi về vận mệnh quốc gia, thiền sư Pháp Thuận không hề dùng lời sấm truyền huyễn hoặc. Câu trả lời của ông đúc kết triết lý chính trị sâu sắc nhất của thời đại, nằm gọn trong bài thơ Quốc tộ:
“Vận nước như mây cuốn,
Trời Nam mở thái bình.
Vô vi trên điện các,
Xứ xứ dứt đao binh.”
Lấy “vô vi” (thuận theo lòng dân, không làm điều bạo ngược hà khắc) để trị nước, ắt binh đao sẽ tắt, thái bình sẽ đến. Đó là lời can gián thẳng thắn, trí tuệ của một người tu hành dành cho một ông vua nóng nảy, quen dùng uy quyền sấm sét.
Dấu ấn tiền đề cho triều đại rực rỡ mai sau
Sự hiện diện của thiền sư Khuông Việt và Pháp Thuận tại trung tâm quyền lực Hoa Lư không phải là hiện tượng ngẫu nhiên. Họ là những người gánh vác sứ mệnh kép: hộ quốc và an dân. Bằng tri thức uyên bác, bản lĩnh ngoại giao và cái tâm trong sáng của người xuất gia, họ đã lấp đầy khoảng trống văn hóa chính trị trong buổi đầu dựng nước.
Chính sự dấn thân của thế hệ thiền sư Đinh – Tiền Lê đã dọn đường cho một nhân vật kiệt xuất khác xuất hiện ngay sau đó: Thiền sư Vạn Hạnh, người đã cùng tôn thất đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, dời đô về Thăng Long, mở ra thời kỳ thịnh trị bậc nhất của văn minh Đại Việt.
Tài liệu tham khảo
- Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Hậu Lê, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.
- Khuyết danh (thời Lý – Trần), Thiền Uyển Tập Anh (Bản dịch của Lê Mạnh Thát), NXB Phương Đông, 2006.
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận (Tập 1), NXB Văn Học, Hà Nội, 2011.
- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Tập 2), NXB TP. Hồ Chí Minh, 2001.