Thiên tai và môi trường thế kỷ X: Bí ẩn thời Ngô – Đinh – Tiền Lê

Thế kỷ thứ mười mở ra cho người Việt một vận hội mới sau ngàn năm Bắc thuộc. Nhưng đằng sau những chiến công lẫy lừng của Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh hay Lê Hoàn là một thực tại khốc liệt ít khi được soi chiếu tường tận: con người thời đại ấy đã sống, sinh tồn và chống chọi ra sao trước một thiên nhiên nhiệt đới còn nguyên vẹn nét hoang dã, dữ dằn?

Đất nước bước vào kỷ nguyên tự chủ không bằng những trang giấy phẳng phiu. Người xưa lập ấp, dựng đô giữa muôn trùng đầm lầy, rừng thiêng nước độc và những chu kỳ thời tiết dị thường. Lật giở các tầng địa chất lẫn những dòng ghi chép ngắn ngủi trong sử cũ, bức tranh môi trường thế kỷ X dần lộ diện với những chuyển động bất ngờ.

Dấu ấn Thời kỳ Ấm Trung cổ: Khí hậu thế kỷ X biến động ra sao?

Để hiểu đời sống thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, cần đặt không gian Đại Cồ Việt vào bức tranh khí hậu toàn cầu. Thế kỷ X đánh dấu giai đoạn mở đầu của Thời kỳ Ấm Trung cổ (Medieval Climate Anomaly – MCA), kéo dài từ khoảng năm 950 đến 1250.

Dữ liệu cổ khí hậu học thu thập từ thạch nhũ trong các hang động ở khu vực Nam Trung Hoa và Đông Nam Á (như hang Dongge, hang Tham Doun Mai) cùng các lõi trầm tích đồng bằng sông Hồng chỉ ra rằng: lượng mưa gió mùa mùa hạ thời kỳ này có những đợt trồi sụt rất gắt. Khí hậu nóng ẩm hơn mức trung bình nhưng đi kèm các biến thiên cực đoan. Những năm hạn hán kéo dài xen kẽ những mùa mưa bão có cường độ quét phá dữ dội.

Một chu kỳ thiên nhiên như thế tạo áp lực sinh tồn nặng nề lên nền kinh tế tiểu nông sơ khai. Mùa màng bấp bênh, nước sông dâng bất chợt. Người Việt thời Ngô Quyền hay Đinh Tiên Hoàng phải đối mặt với một lưu vực sông Hồng hoang dại, dòng chảy chưa hề có hệ thống đê điều quy mô lớn kiềm tỏa như thời Lý – Trần sau này.

Hoa Lư: Tấm gương phản chiếu địa hình đầm lầy và hiểm họa ngập úng

Quyết định chọn Hoa Lư làm kinh đô của Đinh Bộ Lĩnh năm 968 thường được nhìn nhận thuần túy dưới góc độ quân sự phòng thủ. Song, nếu nhìn dưới lăng kính địa lý sinh thái, Hoa Lư chính là câu trả lời của con người trước điều kiện tự nhiên ngặt nghèo.

Vùng đất Ninh Bình khi ấy là vùng trũng ngập nước ven biển, chịu ảnh hưởng triều cường mạnh mẽ hơn hiện nay rất nhiều. Đồng bằng còn lầy thụt, rừng ngập mặn lấn sâu vào đất liền. Sống giữa các thung lũng đá vôi, người dân Đinh – Tiền Lê tận dụng các vách núi làm thành tự nhiên, lấy sông Hoàng Long, sông Sào Khê làm hào lũy.

Nhưng địa thế này cũng đồng nghĩa với hiểm họa lũ lụt thường trực. Khi mưa lớn trút xuống vùng thượng nguồn Hòa Bình đổ dồn về sông Hoàng Long, nước nghẽn lại ở các khe núi hẹp, biến lòng chảo Hoa Lư thành biển nước. Trầm tích khảo cổ tại khu di tích Cố đô Hoa Lư phát lộ những tầng đất sét xám đen xen lẫn vỏ sò, ốc biển, minh chứng rõ ràng cho các đợt ngập úng định kỳ và quá trình biển thoái chậm rãi trong suốt thế kỷ X.

Bão tố, lũ dữ và công trình đào kênh vĩ đại thời Tiền Lê

Chính sử nước nhà ghi chép rất kiệm lời về thiên tai, nhưng từng dòng chữ sót lại đều mang sức nặng của sự thật trần trụi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại không ít lần thời tiết tác động trực tiếp đến vận mệnh quốc gia.

Năm 981, khi Hầu Nhân Bảo dẫn quân Tống xâm lược, chiến sự trên sông Bạch Đằng và sông Lục Đầu không chỉ là cuộc đọ sức giữa hai cánh quân, mà còn là cuộc đấu trí với thủy triều và dòng nước lũ. Tận dụng chênh lệch con nước và luồng lạch hiểm trở của vùng cửa sông nhiệt đới, Lê Hoàn đã tái hiện kỳ tích cắm cọc giết giặc.

Cũng chính vì giao thông đường biển và đường sông quá trắc trở do sóng gió, bão táp, nhà Tiền Lê đã đưa ra một quyết sách mang tầm vóc trị thủy phi thường: đào kênh.

  • Năm 983: Lê Hoàn cho đào kênh Cổ Lăng.
  • Năm 1003: Đào kênh Đa Cái, nạo vét và khơi thông mạng lưới đường thủy nối liền từ Thanh Hóa vào Nghệ An.

Hệ thống kênh Nhà Lê thuở sơ khai không đơn thuần phục vụ việc hành quân hay vận lương. Đó là giải pháp thủy lợi sống còn nhằm thoát lũ cho các vùng đồng bằng trũng hẹp duyên hải miền Trung, đồng thời tạo tuyến thủy lộ an toàn trong đất liền, giúp thuyền bè tránh được những trận cuồng phong ngoài biển khơi – nỗi ám ảnh khôn cùng của cư dân thời bấy giờ.

Hệ sinh thái nguyên sinh: Cá sấu, hổ dữ và chướng khí ngút ngàn

Môi trường thế kỷ X không chỉ có gió bão, mà còn là không gian sinh tồn chia sẻ với muôn loài thú dữ. Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thời kỳ này vẫn còn những dải rừng rậm nhiệt đới nguyên sinh bọc lấy các cụm làng mạc.

Chuyện Đinh Tiên Hoàng nuôi hổ báo trong cũi lớn, thả cá sấu dưới hào nước quanh thành Hoa Lư để trừng phạt kẻ phạm tội phản ánh một chi tiết sinh thái đắt giá: cá sấu hoa cà và hổ dữ là những sinh vật hiện diện phổ biến ngay sát nách con người. Đầm lầy châu thổ ngập mặn là giang sơn của loài bò sát khổng lồ, còn những rặng núi đá vôi u tịch là nơi chúa sơn lâm rình rập.

Bên cạnh dã thú, rừng thiêng nước độc (chướng khí) là mối đe dọa vô hình nhưng dai dẳng. Rét mướt vùng rừng núi, bệnh sốt rét rừng hoành hành khiến dân số thời kỳ này phát triển rất chậm chạp. Đời sống của cư dân thế kỷ X trôi đi trong cảnh một tay cầm cày cuốc vỡ đất, một tay cầm giáo mác đuổi thú dữ, mắt luôn phải ngước nhìn sắc trời để đoán định mùa màng.

Bản lĩnh sinh tồn định hình cốt cách dân tộc

Thiên nhiên thời Ngô – Đinh – Tiền Lê không hề hiền hòa. Môi trường ấy khắc nghiệt, thô ráp, luôn chực chờ nuốt chửng những nỗ lực kiến thiết mong manh của một quốc gia non trẻ. Nhưng chính trong sự cọ xát liên tục với thiên tai, bão lũ và rừng rậm, con người Việt Nam thế kỷ X đã trui rèn nên sức sống dẻo dai phi thường.

Họ hiểu con nước triều lên xuống để dựng cọc đánh tan quân thù. Họ biết nương vào đá vôi để lập kinh đô, xẻ đất đào kênh nối liền bờ cõi. Nền độc lập tự chủ của dân tộc không chỉ được dựng xây bằng gươm giáo trước giặc ngoại xâm, mà trước hết, được đắp bồi từ ý chí khuất phục thiên nhiên hoang dã của những thế hệ mở cõi nghìn năm trước.


Nguồn tư liệu tham khảo:

  1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Hậu Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Bản khắc Nội các quan bản (1697), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998.
  3. Viện Khảo cổ học Việt Nam, Báo cáo khai quật khảo cổ học Khu di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình), các đợt nghiên cứu địa tầng và trầm tích cổ.
  4. Wang, Y., et al. (2005), “The Holocene Asian Monsoon: Links to Solar Changes and North Atlantic Climate”, Science (Tư liệu về biến thiên gió mùa và Thời kỳ Ấm Trung cổ tại Đông Á qua thạch nhũ hang Dongge).