Lịch sử dân tộc trên những trang viết chưa từng đứng yên. Nó dịch chuyển theo nhịp đập tư duy của từng thế hệ cầm bút. Đã có một thời, người đọc chỉ biết đến lịch sử qua những trang sách đóng khung theo thể thức chương hồi, nơi âm hưởng hưng phế của các triều đại được tóm lược bằng việc phân định rạch ròi trung – nịnh, thiện – ác. Thời gian trôi đi, người đương thời nhận ra quá khứ không đơn thuần là biên niên các trận đánh hay sự thay ngôi đổi chủ. Đằng sau lớp bụi thời gian mịt mù ấy là những số phận trần trụi, những tâm can giằng xé giữa bổn phận và dục vọng cá nhân. Văn học lịch sử Việt Nam bước vào một cuộc hoán cốt ngoạn mục: rời xa chiếc áo giáp chương hồi để khoác lên tấm áo tâm lý đa tầng, nơi lịch sử được giải mã bằng chính chiều sâu thăm thẳm của cõi người.
Dấu ấn chương hồi: Khi biến cố ngự trị trang văn
Điểm khởi đầu của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam ghi dấu ấn sâu đậm bằng những tác phẩm viết theo thi pháp diễn nghĩa Minh – Thanh. Nổi bật hơn cả là Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái và Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm. Ở giai đoạn này, cách kể chuyện bị chi phối bởi trục thời gian biên niên nghiêm ngặt. Mỗi chương hồi mở ra bằng một đầu đề đối ngẫu, diễn tiến hành động theo quy luật nhân quả tuyến tính và khép lại bằng câu ước lệ quen thuộc: “Muốn biết sự việc thế nào, xem hồi sau sẽ rõ”.
Nhân vật trong tiểu thuyết chương hồi chủ yếu hành động theo vị thế xã hội và luân lý Nho giáo. Tính cách bộc lộ trọn vẹn qua lời nói và hành vi cụ thể ngoài mặt trận hay chốn triều đình. Tướng dũng thì mắt hổ mày ngài, kẻ gian hùng ắt mặt sắt đen sì. Tâm lý nhân vật hiếm khi có đất để tự bộc lộ những góc khuất, những phân vân hoài nghi. Người kể chuyện đóng vai trò một đấng toàn tri, đứng trên cao nhìn xuống dòng chảy sự kiện, tường thuật lại các biến cố với một giọng điệu khách quan, đạo mạo. Lịch sử lúc ấy hiện diện như những tấm bia đá sừng sững, đúc kết vận mệnh quốc gia hơn là chạm vào nỗi niềm riêng tây của từng cá thể.
Vết rạn của khuôn mẫu và sự thức tỉnh của cá nhân
Đầu thế kỷ XX, ngọn gió Âu hóa thổi qua đời sống đô thị, kéo theo sự ra đời của báo chí và chữ Quốc ngữ. Các nhà văn như Nguyễn Triệu Luật (với Loạn kiêu binh, Hàm Nghi oanh liệt) hay Lan Khai (với Ai lên phố Cát) bắt đầu tìm cách phá bỏ tính quy phạm của lối viết cũ. Dù vẫn nặng tính sự kiện, nhân vật lịch sử đã bắt đầu biết thở dài, biết u uất trước thời cuộc chứ không còn thuần túy là những quân cờ trên bàn cờ chính trị.
Phải đến những năm cuối thập niên 1980, một cú hích làm rung chuyển văn đàn xuất hiện. Những truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp như Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết ra đời, giáng một đòn mạnh mẽ vào thói quen tiếp nhận lịch sử đơn tuyến. Nguyễn Huy Thiệp kéo các bậc đế vương, anh hùng từ bệ thờ thần thánh xuống mặt đất gồ ghề của đời sống thực. Ở đó, người ta thấy Gia Long đầy toan tính, Nguyễn Huệ ngập tràn dục vọng phàm trần xen lẫn khí phách, và một nàng Ngô Thị Vinh Hoa trĩu nặng bi kịch nhan sắc. Lịch sử không còn là bản tụng ca thuần khiết; nó trở thành một ẩn số đầy bất an, buộc người viết lẫn người đọc phải bóc tách từng lớp tâm lý phức tạp của con người đứng trước quyền lực và cái chết.
Nguyễn Xuân Khánh và chiều sâu văn hóa trong xung đột nội tâm
Tiểu thuyết tâm lý lịch sử Việt Nam đạt đến độ chín về nghệ thuật tự sự khi có sự xuất hiện của Nguyễn Xuân Khánh. Với bộ ba tác phẩm đồ sộ, tiêu biểu là Hồ Quý Ly, ông không kể lại một giai đoạn lịch sử chỉ bằng các cứ liệu khô khốc trong Đại Việt sử ký toàn thư. Thay vào đó, ông lặn sâu vào tầng đáy văn hóa, giải mã tâm thức con người thời tao loạn.
Dưới ngòi bút Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Quý Ly không đơn thuần là kẻ cướp ngôi nhà Trần hay một nhà cải cách thất bại. Đó là một bi kịch tư tưởng sâu sắc. Một trí thức cô đơn tuyệt đối giữa thời đại của mình, bị giằng xé giữa cái tiến bộ của tư tưởng canh tân và sự bảo thủ ngàn đời của nếp làng, họ tộc. Tác giả dành nhiều trang miêu tả đời sống vô thức, những giấc mơ hoang hoải, cuộc đối thoại giữa đạo Nho, đạo Phật và tín ngưỡng Mẫu bản địa. Cách kể chuyện biến hóa mềm mại, nhịp văn chầm chậm như dòng nước ngầm, đưa người đọc đi xuyên qua các tầng ý thức của nhân vật. Lịch sử khi ấy trở thành không gian để con người tự vấn về bản sắc, về đức tin và giới hạn của quyền lực.
Uông Triều và sự phân mảnh của ký ức lịch sử
Thế hệ nhà văn đương đại, tiêu biểu như Uông Triều với Sương mù tháng Giêng, đưa cuộc cách tân tự sự lịch sử đi xa hơn nữa trên con đường khám phá tâm lý. Uông Triều từ bỏ lối dựng truyện tròn trịa, thay bằng kỹ thuật phân mảnh, lắp ghép và đa điểm nhìn.
Nhân vật Trần Thủ Độ trong Sương mù tháng Giêng không hiện lên như một chân dung toàn vẹn được đóng đinh bởi phán xét công – tội. Trần Thủ Độ hiện ra qua những mảnh ký ức chắp vá, những cơn mộng mị, nỗi cô độc lạnh lẽo và sự tàn nhẫn đến thấu xương của một kẻ phải gánh vác việc dựng nghiệp cho một dòng họ. Nhà văn sử dụng độc thoại nội tâm dày đặc, xóa nhòa lằn ranh giữa thực và mộng, giữa sự thật lịch sử và sự thật tâm lý.
Lịch sử trong mắt các cây bút đương đại không còn là chân lý bất di bất dịch nằm trên những trang giấy ố vàng. Nó là một vùng “sương mù” mông lung, nơi mọi giả thuyết đều có quyền cất lên tiếng nói. Điểm nhìn của người kể chuyện không còn ngự trị trên ngai vàng của sự phán xét; nó phân tán vào tâm can của từng nhân vật, thậm chí nhường quyền suy đoán cho chính bạn đọc.
Cuộc hoán vị trong kỹ thuật tự sự: Bản chất của sự đổi thay
Sự chuyển mình từ chương hồi sang tâm lý không chỉ là câu chuyện thay đổi hình thức bên ngoài, mà là một cuộc cách mạng trong nhận thức nghệ thuật:
- Sự chuyển dịch của biến cố: Nếu tiểu thuyết chương hồi coi trọng biến cố hành động (các cuộc chiến, mưu kế đoạt vị) thì tiểu thuyết tâm lý lấy biến cố tâm trạng làm động lực phát triển cốt truyện. Một khoảnh khắc do dự, một cơn ác mộng hay nỗi sợ hãi hư vô cũng có thể trở thành tâm điểm của một chương sách.
- Cấu trúc nhân vật đa diện: Mô hình nhân vật phẳng, phiến diện theo kiểu “trung thần – nghịch tặc” bị xóa bỏ hoàn toàn. Thay vào đó là những nhân vật tròn, đa chiều, đầy khiếm khuyết, vừa đáng trọng vừa đáng thương, luôn bị đặt trước những lưỡng lự đạo đức khó lòng phân xử.
- Giọng điệu và nhịp điệu trần thuật: Giọng điệu ngợi ca hoặc lên án mang tính răn dạy đạo đức của lối kể cũ nhường chỗ cho giọng điệu chiêm nghiệm, hoài nghi và giàu tính triết luận. Nhịp văn co giãn linh hoạt theo dòng suy tưởng miên man của nhân vật, không còn bị bó buộc bởi trật tự thời gian cơ giới.
Lời kết
Văn học lịch sử Việt Nam, từ những bước đi chập chững theo lề thói diễn nghĩa cổ xưa, nay đã thực sự tìm thấy bản sắc hiện đại bằng việc hướng ống kính vào nội tâm con người. Sự biến chuyển từ tiểu thuyết chương hồi sang tiểu thuyết tâm lý không làm cho lịch sử trở nên mơ hồ hơn. Ngược lại, nó trả lại cho quá khứ chiều kích chân thực nhất: lịch sử được tạo dựng bởi những con người bằng xương bằng thịt, mang trong mình đầy đủ những khát khao, sợ hãi và niềm kiêu hãnh khôn nguôi. Ở nơi sâu kín nhất của tâm hồn ấy, lịch sử không còn là câu chuyện của người xưa, mà trở thành tấm gương soi chiếu cho chính những giằng xé của con người ngày hôm nay.
Tài liệu tham khảo
- Ngô gia văn phái (bản dịch của Hoàng Thúc Trâm), Hoàng Lê nhất thống chí, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.
- Nguyễn Xuân Khánh (2000), Hồ Quý Ly, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội.
- Nguyễn Huy Thiệp (2006), Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
- Uông Triều (2015), Sương mù tháng Giêng, Nhà xuất bản Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
- Lã Nguyên (2012), Văn học dân tộc và văn học so sánh (các tiểu luận về thi pháp tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại), Tạp chí Nghiên cứu Văn học.