Vị thế lãnh đạo của Trưng Trắc trong cuộc khởi nghĩa Đông Hán

Mùa xuân năm Canh Tý (năm 40 sau Công nguyên), cõi Giao Chỉ sục sôi bởi một biến cố làm rúng động cả triều đình Lạc Dương phương Bắc. Dưới ách cai trị khắc nghiệt của Thứ sử Tô Định, chính sách đồng hóa gắt gao cùng sự bóc lột cùng kiệt đã đẩy mâu thuẫn giữa chính quyền đô hộ Đông Hán và tầng lớp quý tộc Lạc Việt đến bờ vực vỡ vụn. Giữa thời khắc sinh tử của văn hóa bản địa, một người đàn bà đứng dậy phát động cờ nghĩa. Đó là Trưng Trắc.

Lịch sử thường có xu hướng thi vị hóa hoặc bi kịch hóa các cuộc khởi nghĩa của phụ nữ, nhìn nhận họ qua lăng kính của lòng thù hận cá nhân hay đức hy sinh thuần túy. Song, nếu bóc tách lớp sương mù của huyền tích và đối chiếu những dòng ghi chép đanh gọn từ cổ sử, vị thế thủ lĩnh của Trưng Trắc hiện lên với đầy đủ phẩm chất của một nhà tổ chức quân sự mưu lược, một chính khách biết chớp thời cơ và là biểu tượng quy tụ sức mạnh cộng đồng Lạc Việt thời sơ sử.

Khả năng liên kết Lạc tướng và nghệ thuật chớp thời cơ

Đất Mê Linh thuở ấy vốn là một thái ấp cổ, nơi truyền thống thế tập của các Lạc tướng vẫn duy trì mạch ngầm bền bỉ trước sự thâm nhập của quan lại Hán triều. Trưng Trắc xuất thân từ dòng dõi quý tộc Lạc tướng Mê Linh, kết duyên cùng Thi Sách, con trai Lạc tướng Chu Diên. Cuộc hôn nhân mang tính liên minh địa chính trị sâu sắc, kết nối hai vùng đất trọng yếu ven sông Hồng và sông Đáy thành một thế lực quân sự – kinh tế vững chắc.

Biến cố Tô Định mưu h.ạ.i Thi Sách không đơn thuần là một vụ án oan khuất gia đình. Đó là đòn đánh trực diện của chính quyền Đông Hán nhằm triệt hạ mầm mống phản kháng của giới quý tộc bản xứ. Đứng trước sự đe dọa tồn vong ấy, phản ứng của Trưng Trắc mang tính quyết định. Bà biến nỗi đau riêng thành chất xúc tác cho một kế hoạch đã được nung nấu từ lâu.

Khác với những cuộc nổi dậy tự phát, Trưng Trắc thể hiện năng lực tổ chức phi thường khi triệu tập được các thủ lĩnh địa phương từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam cho đến tận vùng Hợp Phố (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay). Tiếng hô tại cửa sông Hát Môn lập tức nhận được sự hưởng ứng đồng loạt. Đó là kết quả của một mạng lưới liên kết chặt chẽ dựa trên uy tín cá nhân, truyền thống mẫu hệ còn in đậm trong tâm thức Việt cổ và sự tương đồng về quyền lợi giữa các tù trưởng bản địa.

Ghi nhận từ phía bên kia: Lời chép trong cổ sử Trung Hoa

Để đánh giá sự nguy hiểm và tầm vóc của một thủ lĩnh khởi nghĩa, không gì xác thực hơn là nhìn vào cách mà chính đối thủ ghi lại về họ. Trong cuốn Hậu Hán thư do Phạm Việp biên soạn, Trưng Trắc được nhắc đến với giọng điệu kiêng dè rõ rệt. Sử thần phương Bắc chép rằng: “Trưng Trắc là người đàn bà Giao Chỉ, dũng mãnh, giỏi đánh úp”.

Chữ “dũng hãn” (dũng cảm, thiện chiến) xuất hiện trong văn bản của quan lại triều đình Hán không phải lời ngợi khen sáo rỗng. Đó là sự thừa nhận thực tế cay đắng: đạo quân do người phụ nữ Mê Linh chỉ huy đã quét sạch bộ máy cai trị Đông Hán với tốc độ kinh hoàng. Sáu mươi lăm thành trì sụp đổ liên tiếp. Thái thú Tô Định phải cắt tóc cạo râu, lén lút trốn chui trốn lủi về Nam Hải.

Sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống quận huyện phương Bắc buộc Hán Quang Vũ Đế phải ban lệnh thiết quân luật trên diện rộng, coi việc bình định vùng đất phía Nam là quốc sự tối thượng. Viên hoàng đế lọc lõi đã phải huy động viên danh tướng thiện chiến bậc nhất bấy giờ là Phục Ba tướng quân Mã Viện, kết hợp cùng Lưu Long và Đoàn Chí, dẫn theo hàng vạn quân tinh nhuệ cùng thuyền chiến xuống phương Nam. Việc nhà Hán phải đem toàn lực quốc gia nghênh chiến chính là minh chứng rõ nét nhất cho quy mô và tính kỷ luật của lực lượng do Trưng Trắc lãnh đạo.

Tư cách đế vương và bước ngoặt xác lập chủ quyền

Chiến thắng đuổi được giặc Hán mới là một nửa của câu chuyện. Nửa còn lại, quyết định tầm vóc của Trưng Trắc, nằm ở hành động xưng vương và định đô tại Mê Linh.

Hành động xưng vương (sử gọi là Trưng Vương) mang ý nghĩa đoạn tuyệt triệt để với quy chế bảo hộ của hoàng đế phương Bắc. Bà không chọn cách xoa dịu hay cầu phong danh vị để tìm kiếm sự an toàn tạm bợ. Việc bà tự lập làm vua, cắt đứt các thứ thuế khóa nặng nề do người Hán áp đặt trong suốt nhiều thập kỷ, cho thấy một ý thức rõ rệt về chủ quyền lãnh thổ và quyền tự quyết của người Việt.

Dưới sự trị vì ngắn ngủi ấy, Mê Linh trở thành trung tâm chính trị mới. Cấu trúc quyền lực không còn lệ thuộc vào những sắc lệnh từ Trung Nguyên mà vận hành theo nhịp điệu của thiết chế văn hóa bản địa. Trưng Trắc đã chứng minh bản thân không chỉ dừng lại ở vai trò một tướng lĩnh khởi binh trên chiến trường, mà bà đã thực sự nắm giữ vị trí nguyên thủ của một quốc gia độc lập non trẻ.

Đánh giá từ các sử gia phong kiến Việt Nam

Trải qua nhiều thế kỷ, các nhà chép sử Đại Việt nhìn nhận vai trò của Trưng Trắc với sự kính trọng tuyệt đối, đặt bà ở vị trí mở đầu cho tinh thần độc lập tự chủ.

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Lê Văn Hưu đã để lại lời bình bất hủ:

“Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương.”

Sử thần Ngô Sĩ Liên cũng đồng thuận khi cho rằng khí phách của Trưng Trắc đã đánh thức tinh thần quật khởi của người Lạc Việt, khẳng định rằng cõi Nam này hoàn toàn có thể tự đứng vững mà không cần núp bóng bất kỳ thiên triều nào.

Dẫu cuộc kháng chiến sau đó kết thúc bi tráng trước sức ép quân sự khổng lồ của Mã Viện tại Lãng Bạc và Cấm Khê, sự t.u.ẫ.n t.i.ế.t của Hai Bà Trưng nơi dòng Hát Giang đã khép lại một chương oanh liệt. Người nữ Lạc tướng ấy không để mình rơi vào tay giặc, giữ trọn khí tiết của một bậc đế vương.

Vai trò lãnh đạo của Trưng Trắc, qua tất cả các lớp tư liệu lịch sử, không bao giờ bị gói gọn trong khuôn khổ của sự phản kháng nông dân hay bộc phát nhất thời. Đó là một mẫu hình thủ lĩnh quân sự xuất sắc, biết chuyển hóa sức mạnh văn hóa thành sức mạnh vũ trang, dùng sự cương quyết của bậc quân vương để xác lập ranh giới độc lập đầu tiên cho dân tộc sau đêm dài Bắc thuộc.

Tài liệu tham khảo

  • Phạm Việp, Hậu Hán thư (Mã Viện liệt truyện, Nam Man Tây Nam Di liệt truyện).
  • Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư (Ngoại kỷ – Quyển 3: Kỷ Trưng Nữ Vương).
  • Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (Tiền biên – Quyển 2).
  • Viện Sử học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam (Tập 1), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.